Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2026

Thơ Chữ Hán Của Nguyễn Du - Bài 39, 40 Và 41

 


THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU - BÀI 39, 40 VÀ 41
Thầy Dương Anh Sơn

THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU - Tập 3 : BẮC HÀNH TẠP LỤC

Bài 39

TƯƠNG GIANG DẠ BẠC                                                       湘江夜泊

Nhất khứ lục thập lý,                                                                  ㇐去六十里,
Du du giang thuỷ trường.                                                           悠悠江水長。
Phù vân liên Ngũ Lĩnh,                                                              浮雲連五嶺,
Minh nguyệt hội Tam Tương.                                                    明月會三湘。
Biệt phố phân tân sắc,                                                                別浦分新色,
Dao không thất cố hương.                                                          遥空失故鄉。
Hạc lai nhân bất kiến,                                                                 鶴來人不見,
Vãn thụ uất thương thương.                                                       晚樹鬱滄滄。

Dịch nghĩa:

Một lần đi sáu mươi dặm, - Con sông xuôi chảy dài miên man. – Những đám mây trôi nổi nối liền với Ngũ Lĩnh, - Ánh trăng tỏa sáng họp nhau lại ở vùng Tam tương. (c.1-4)
Vẻ đẹp mới mẻ (của ánh trăng sáng) chia khắp các bến sông riêng biệt, - Quê hương khuất nẻo ở khoảng trời xa xăm. – Con chim hạc lại về nhưng không thấy người (cưỡi hạc), - Cây cối rậm rạp vào buổi chiều hôm xanh thẳm. (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

ĐÊM ĐỖ THUYỀN Ở SÔNG TƯƠNG

Sáu mươi dặm, một lần đi,
Sông dài dằng dặc xuôi về xa xôi!
Nối nhau Ngũ Lĩnh mây trôi,
Ánh trăng họp lại sáng ngời Tam Tương.
Chia riêng vẻ mới bến sông,
Khoảng trời khuất nẻo, quê hương xa vời!
Hạc về chẳng thấy đâu người!?
Rậm rì cây cối, xanh ngời chiều hôm.

Chú thích:

- Tương Giang 湘江: dòng sông Tương bên Trung Hoa có nguồn phát
sinh từ Quảng Tây chảy về đông bắc Hồ Nam nhập chung với dòng Ly Thủy, còn gọi là Ly Tương. Rồi gặp dòng Tiêu Thủy hay là Tiêu Tương và trở ngược lên phía bắc gặp dòng Chung Thủy còn gọi là Chung Tương. Vì thế nên Tương Giang được gọi là Tam Tương 三湘 dồn nước chảy vào hồ Động Đình.
- bạc 泊: ghé thuyền, đỗ thuyền hay dừng thuyền để nghỉ lại...
- du du 悠悠: xa thăm thẳm, xa xôi, miên man, liên tục, triền miên, lơ
lững, thong dong...
- Ngũ Lĩnh 五嶺: năm ngọn núi cao trải dài giáp hai tỉnh Hồ Nam và Quảng Tây bên Trung Hoa.
- biệt phố 別浦: bến sông, cửa sông hay ven sông nằm riêng biệt...
- tân sắc 新色: sắc thái mới mẻ, vẻ đẹp mới...
- dao không 遥空: khoảng trời xa xăm...
- Câu 7 và 8: Nguyễn Du mượn ý trong bài thơ “Hoàng Hạc Lâu” nổi
tiếng trong thi ca Trung Hoa của Thôi Hạo còn gọi là Thôi Hiệu (704-
754) với câu 3 và 7 : “Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản 黃鶴㇐去不復返” và “Phương thảo thê thê Anh Vũ châu 芳草萋萋鸚鵡洲” (Con hạc vàng một lần đi không trở lại, Đám cỏ thơm tho tươi tốt ở bãi Anh Vũ).
Nhà thơ cũng lấy câu chuyện tương truyền từ xa xưa kể chuyện Phí Văn Huy cưỡi hạc vàng bay lên tiên cảnh từ lầu Hoàng Hạc (nằm ở tây nam huyện Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc, kề bên Tương Giang) để thêm thi vị trong cảnh đêm đậu thuyền ở sông Tương)
- uất 鬱: um tùm, rậm rạp, sum suê...
- thương thương 滄滄: thương: màu xanh thẫm, xanh biếc, xanh rì của nước biển hay da trời. Đôi khi cũng để diễn tả vẻ lạnh lẽo, xa vắng...Còn “thương thương” là màu xanh đậm, màu xanh thẫm hay xanh um nhưng sắc độ đậm hơn lại phảng phất vẻ lạnh lẽo, u tịch...

Bài 40

TƯƠNG ĐÀM ĐIẾU                                                                湘潭弔
TAM LƯ ĐẠI PHU                                                                   三閭大夫
(KỲ NHẤT)                                                                               (其㇐)

Hiếu tu nhân khứ nhị thiên tải,                                                   好修人去二千載,
Thử địa do văn lan chỉ hương.                                                   此地猶聞蘭芷香。
Tông quốc tam niên bi phóng trục,                                            宗國三年悲放逐,
Sở Từ vạn cổ thiện văn chương.                                                楚詞萬古擅文章。
Ngư long giang thượng vô tàn cốt,                                            魚龍江上無殘骨,
Đỗ nhược châu biên hữu chúng phương.                                   杜若洲邊有眾芳。
Cực mục thương tâm hà xứ thị,                                                 極目傷心何處是,
Thu phong lạc mộc quá Nguyên Tương.                                   秋風落木過沅湘。

Dịch nghĩa:

Người thích sửa đổi, tu chỉnh đạo đức đã ra đi từ hai ngàn năm nay, - Vùng đất này vẫn còn ngửi được hương thơm của hoa lan, hoa chỉ. – Bị đi đày khỏi nơi tông miếu nước nhà suốt ba năm, - Muôn đời Sở Từ riêng chiếm trên đàn văn chương.(c.1-4)
Các loài cá rồng trên sông đã làm mất nắm xương tàn (của ông), - Đám hoa đỗ nhược bên cồn cát trên sông và nhiều cỏ thơm nữa.
– Ta xót xa dõi mắt tìm chốn nào đây (nơi ông trầm mình), - Cơn gió
thu đi qua sông Nguyên Tương làm rơi rụng những cây và lá.(c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

VIẾNG TAM LƯ ĐẠI PHU
Ở TƯƠNG ĐÀM (Bài một)

Người hiền đi mấy ngàn năm,
Vẫn nghe thơm ngát chỉ lan đất này.
Ba năm buồn nước đi đày,
“Sở Từ” riêng chiếm văn hay muôn đời.
Cá rồng xương chẳng còn rồi!
Bên cồn đỗ nhược thơm vời đám hoa.
Nơi nào ? Dõi mắt xót xa,
Nguyên Tương cơn gió đi qua lá lìa!

Chú thích:

- Tương Đàm 湘潭: còn gọi là vùng Trường Sa thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa.
- Tam Lư Đại phu 三閭大夫: chức quan Khuất Nguyên giữ trong triều nhà Sở thời Chiến Quốc bên Trung hoa đứng sau quan Lệnh Doãn (tương đương Tể tướng sau này). Khuất Nguyên đã đề ra “hiến lệnh 憲令” tức là những quy định của pháp lệnh trong công việc triều chính và cai trị. Sở Hoài vương lúc đầu chấp thuận cho thi hành nhưng không bao lâu bọn nịnh thần trong triều dèm pha nên vua Sở không còn tin dùng và đày ông đi Giang Nam. Trên đường đi đày, ông qua hồ Động Đình theo dòng sông Nguyên, sông Tương đến sông Mịch La là nhánh sông nhỏ chảy vào sông Tương. Khuất Nguyên buồn bã phẫn chí rồi tự trầm mình ở con sông này vào ngày mồng 5 tháng 5. Ngày nay, người Hoa thường tổ chức các lễ hội để kỷ niệm ngày mất của Khuất Nguyên gọi là Tết Đoan Ngọ. Nước ta, do ảnh hưởng hơn ngàn năm của sự xâm lăng từ Trung Hoa và do nhiều người Hoa nhập cư nước ta sau khi nhà Minh mất vào tay Mãn Thanh. Họ đã đem văn hóa và phong tục của họ truyền vào khiến nhiều người thiếu suy xét “ăn theo” những cúng kiến hay văn hóa bên Trung Hoa làm mất đi bản sắc dân tộc đáng ra nên để tôn vinh những anh hùng, danh nhân của đất nước mình!
- hiếu tu nhân 好修人: người thích sửa sang, tu tập để cho đức nhân luôn được nâng cao trở nên mẫu người hiền. Đây là chữ lấy trong Sở Từ của Khuất Nguyên.
- lan chỉ hương 蘭芷香: hương thơm của hoa lan và hoa bạch chỉ thường được Khuất Nguyên yêu thích và đề cập trong Sở Từ. Hai loại hoa này tượng trưng cho sự thanh cao...
- phóng trục 放逐 : bị buộc phải đi đày, bị duôi đi...
- Sở Từ 楚詞: “Từ’ là một loại thơ cổ có từ lâu bên Trung Hoa. Nhưng làm“từ” đạt đến mức gọi là kiệt tác chỉ có tác phẩm Sở Từ của Khuất Nguyên người nước Sở thời Chiến Quốc mà thôi! Nổi bật nhất của cuốn Sở Từ là thiên “Ly Tao” (Buồn rầu vì bị chia lìa) được xem là tiêu biểu nhất và nổi tiếng hơn cả của thể loại “từ”.
- thiện 擅: chuyên biệt, chiếm riêng, sở trường...
- đỗ nhược 杜: tên của một loại cây thân thảo sống lâu năm, thường mọc nơi ẩm ướt dưới tán lá rừng. Hoa nhỏ kết thành chùm, màu trắng hoặc tím nhạt. Quả mọng màu xanh lam thẫm khi chín. Cây thường tỏa hương thơm nhẹ nhàng. (Tên khoa học của hoa là Pollia japonica thuộc họ cây Thài Lài- Commelinaceae). Trong thi ca cổ điển bên Trung Hoa, hoa “đỗ nhược” thường được dùng như một biểutượng thanh cao.

Dương Anh Sơn
(Saigon, 2003)

(Lần đến: BẮC HÀNH TẠP LỤC của NGUYỄN DU – bài 41, 42 và 43)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét