ỨC TRAI THI TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI - BÀI 64, 65, 66 VÀ 67
Thầy Dương Anh Sơn
ỨC TRAI THI TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI - THỜI KỲ SAU KHI BỊ TÙ OAN MUỐN LUI VỀ ẨN DẬT (Khoảng 1429-1437)
Bài 64
ĐỀ ĐÔNG SƠN TỰ 題 東 山 寺
Quân thân nhất niệm cửu anh hoài, 君親一念久嬰懷,
Giản quý lâm tàm túc nguyện quai. 澗愧林慚夙願乖.
Tam thập dư niên trần cảnh mộng, 三十餘年塵境夢,
Sổ thanh đề điểu hoán sơ hồi. 數聲啼鳥喚初回.
Dịch nghĩa:
Một niềm nhớ mãi (ơn) vua và cha mẹ - Thẹn với khe suối, tủi hổ với rừng đã sai với lời ước nguyền xưa - Cảnh đời hơn ba chục năm chỉ là mộng – Vài tiếng chim kêu của thuở ban sơ gọi quay trở về.
Tạm chuyển lục bát:
ĐỀ CHÙA ĐÔNG SƠN.
“Quân, thân” – nhớ mãi một niềm,
Rừng khe hổ thẹn sai nguyền ước xưa.
Mộng đời ba chục năm thừa,
Chim kêu vài tiếng ban sơ gọi về.
Chú thích:
** Chùa Đông Sơn nằm ở xã Vĩnh Lũ, Đông Triều, Hải Dương.
- quân, thân 君親: đạo trung với vua trên và đạo hiếu với cha mẹ theo quan điểm nho giáo ngày xưa.
- anh hoài 嬰懷: nỗi nhớ quay vòng, nhớ hoài, nhớ mãi.
- tàm, quý 慚,愧: hổ thẹn, thẹn thùng.
- túc 夙: sớm, vốn có, cũ, xưa trước.
- quai 乖: trái ngược, không hòa nhau, láu lĩnh, nhanh nhẹn, khéo léo, ngoan, gàn dở, chia li.....
- hoán 喚: kêu lên, gọi đến.
- sơ 初: thuở ban đầu, ban sơ.
Bài 65
THÙ HỮU NHÂN KIẾN KÝ 酬 友 人 見 寄
Kiểu kiểu long tương vạn hộc chu, 矯矯龍驤萬斛舟,
An hành mỗi cụ phúc trung lưu. 安行母懼覆中流.
Sự kham thế lệ phi ngôn thuyết. 事堪涕淚非言說,
Vận lạc phong ba khởi trí mưu, 運落風波豈智謀.
Thân ngoại phù danh Yên Các quýnh, 身外浮名煙閣迥,
Mộng trung hoa điểu cố sơn u, 夢中花鳥故山幽.
Ân cần kham tạ hương trung hữu, 慇懃堪謝鄉中友,
Liêu bả tân thi tả ngã sầu. 聊把新詩寫我愁.
Dịch nghĩa:
Chiếc thuyền rồng muôn hộc ngẩng cao đầu mạnh mẽ, - Đi yên lành những vẫn sợ đắm giữa dòng. - Sự việc đành để rơi lệ, không nói gì được, - Thời cơ rơi vào sóng gió, tính toan làm sao giờ! (c.1-4)
Thân ở ngoài danh suông, xa cách Yên Các, – Chim và hoa còn trong giấc mộng, lặng lẽ núi quê xưa. - Thiết tha xin cám ơn các bạn nơi quê làng, - Nhờ đem bài thơ mới của ta bày tỏ nỗi sầu. (c.5-8)
Tạm chuyển lục bát:
ĐÁP LẠI THƯ BẠN GỬI.
Ngẩng cao muôn hộc thuyền rồng,
Yên lành đi sợ giữa dòng đắm thôi!
Đành rơi lệ, chẳng nên lời,
Tính toan sóng gió vận rơi sao giờ!
Thân xa Yên Các danh hờ,
Non xưa trong mộng lặng mờ chim hoa.
Bạn quê đành tạ thiết tha,
Nhờ mang thơ mới của ta dốc sầu!
Chú thích:
- thù 酬: đáp trả, mời rượu, đền công, báo đáp, giao thiệp...
- kiểu kiểu 矯矯: mạnh mẽ, hùng dũng.
- long tương 龍驤: con rồng ngẩng cao đầu.
- vạn hộc 萬斛: đơn vị hộc theo cách đo ngày xưa. Đây chỉ con thuyền to lớn.
- cụ 懼: hoảng hốt, sợ hãi.
- phúc 覆: đổ xuống, chìm đắm, thất bại, trái lại, xét lại.
- thế lệ 涕淚: rơi lệ.
- vận 運: dời đổi, chuyển đổi. Đây chỉ vận hội, thời cơ bị trắc trở, xa rời không nắm được.
- há 豈: biết sao bây giờ, há sao, có không. Dùng trong các câu hỏi ngược lại.
- Yên Các 煙閣: tương tự như lầu Vân Đài của nhà Hán, Yên Các là nơi nhà Đường tôn vinh các công thần, danh tướng.
- quýnh 迥: xa cách, xa xôi, vắng vẻ, khác hẳn...
- liêu聊: nhờ cậy; bả 把: mang, cầm nắm. 聊把 liêu bả: nhờ mang, cầm giúp.
- tả寫: bày tỏ, kể ra, dốc bầu tâm sự.
Bài 66
HỌA HỮU NHÂN YÊN HÀ NGỤ HỨNG (Kỳ nhất) 和 友 人 煙 霞 寓 興 期一
Bồng Lai Nhược Thủy yểu vô nha (nhai), 蓬萊弱水杳無涯,
Tục cảnh đê hồi phát bán hoa. 俗境低回髮半花.
Vân ngoại cố cư không huệ trướng, 雲外故居空蕙帳,
Nguyệt trung thanh mộng nhiễu sơn gia. 月中清夢遶山家.
Tâm như dã hạc phi thiên tế, 心如野鶴飛天際,
Tích tự chinh hồng đạp tuyết sa. 跡似征鴻踏雪沙.
Nham huyệt thê thân hà nhật thị, 岩穴棲身何日是,
Thiên môn hồi thủ ngũ vân xa. 天門回首五雲賒.
Dịch nghĩa:
Bồng Lai, Nhược Thủy xa thẳm không bến bờ, - Nơi trần tục cúi đầu nhìn lại mái tóc đã bạc đốm nửa rồi. - Nơi ở xưa nằm ngoài mây, màn trướng thơm hoa huệ thanh khiết, lặng lẽ, - Trong vầng trăng tỏa, giấc mộng nhẹ vòng quanh căn nhà ở núi. (c.1-4)
Tấm lòng như con hạc nơi đồng nội bay xa tận chân trời - Dấu chân đi như chim hồng dẫm cát và tuyết - Ngày nào mới được ở hang núi để nương thân đây!? – Quay đầu nhìn lại cửa trời năm sắc mây xa dần dần. (c.5-8)
Tạm chuyển lục bát:
HỌA BÀI THƠ CỦA BẠN
“CẢM HỨNG KHÓI MÂY VÀ RÁNG TRỜI ” (Bài 1)
Không bờ, xa thẳm Nhược, Bồng,
Cõi trần nhìn lại nửa phần tóc pha.
Chốn xưa, màn huệ mây xa,
Núi trong giấc mộng, quanh nhà trăng soi.
Lòng như hạc nội chân trời,
Chân đi dẫm tuyết, cát phơi dấu hồng
Ngày nào hang núi nương thân,
Cửa trời quay lại xa dần năm mây!
Chú thích:
- Bồng Lai, Nhược Thủy 蓬萊弱水: tương truyền ở giữa biển Bột Hải (Đông Bắc Trung Hoa) có dòng Nhược chảy yếu và chậm quanh non Bồng là nơi các tiên ở.
- yểu 杳: xa thẳm, sâu thăm thẳm. Bản dịch của Hoàng Khôi (S.đ.d. tr.125) và của Đ.D.A (S.đ.d.tr.325) trong câu 1 đều dịch chữ ‘yểu” là 杳 “diểu” (diểu là số rất nhỏ âm của chữ “niểu 渺” có nghĩa là xa tít, xa thẳm cùng nghĩa với “yểu”.
- không 空: trống vắng, trống không, bầu trời, lặng lẽ; không huệ trướng: màn huệ treo lặng lẽ.
- tích 跡: dấu chân.
- chinh hồng 征鴻: mượn ý thơ của Tô Đông Pha (đời Tống Thần Tông (1076): “Nhân sinh đáo xứ tri hà tự; Ưng tự phi hồng đạp tuyết nê” (Hoài cựu) (人生到處知何似, 應似飛鴻踏雪泥 - 懷舊)– Người ta đi đến không biết ở xứ nào, giống như chim hồng đang bay mà phải dẫm đạp trên tuyết và bùn lầy.
- ngũ vân xa 五雲賒 ngũ vân xa: năm sắc mây dần dần trở nên xa xôi (ngũ vân: chỉ điềm lành sự êm ấm, tốt đẹp; xa: xa xỉ, xa xôi, lâu dài trở nên xa cách...)
Bài 97
HỌA HỮU NHÂN YÊN HÀ NGỤ HỨNG (Kỳ nhị) 和 友 人 煙 霞 寓 興 期二
Tiên thư sổ quyển cựu sinh nha (nhai) 仙書數卷舊生涯,
Cơ thực tùng căn tước nhật hoa. 饑食松根嚼日華.
Trúc hữu thiên can lan tục khách, 竹有千竿攔俗客,
Trần vô bán điểm đáo tiên gia. 塵無半點到仙家.
Diêu giai hạc lệ song tà nguyệt, 瑤階鶴唳窗斜月,
Điếu chử ngư hàn trạo các sa. 釣渚魚寒棹擱沙.
Đồ giác hồ trung phong nguyệt hảo, 徒覺壺中風月好,
Niên niên bất dụng nhất tiền xa. 年年不用一錢賒.
Dịch nghĩa:
Sách tiên vài cuốn là vốn để sinh sống từ trước, – Đói thì ăn rễ tùng hoặc nhai ánh sáng mặt trời. – Có ngàn cây trúc để ngăn chận khách tục, - Chẳng có hạt bụi nào đến nhà tiên ở. (c.1-4)
Nơi thềm ngọc có tiếng hạc kêu, ánh trăng nghiêng vào song cửa, - Bến câu cá lạnh lẽo, gác mái chèo lên cát. – Đi và biết được bầu gió trăng đẹp đẽ, - Quanh năm chẳng phải dùng đến một đồng tiền để tiêu phí nào cả. (c.5-8)
Tạm chuyển lục bát:
HỌA BÀI THƠ CỦA BẠN
“CẢM HỨNG KHÓI MÂY VÀ RÁNG TRỜI” (Bài 2)
Sách tiên mấy cuốn sống đời,
Rễ tùng khi đói, ánh trời nhai ăn!
Trúc ngàn, khách tục cản ngăn,
Nhà tiên hạt bụi chẳng giăng nửa nào.
Hạc kêu thềm ngọc, trăng vào,
Gác chèo trên cát, bãi câu lạnh ngời.
Biết bầu trăng gió tuyệt vời,
Quanh năm chẳng phải tốn vơi đồng nào!
Chú thích:
- sinh nhai 生涯: những phương cách để sống còn, cách thế sinh sống.
- cơ thực tùng căn 饑食松根: lúc đói sẽ ăn rễ thông .Theo sách Liệt Truyện của Trung Hoa, kể chuyện Ốc Thuyên xưa kia đi vào núi tu tiên thường ăn rễ thông hay hạt ở quả thông nên đi rất nhanh và sống rất thọ...
- tước 嚼: nhai, cắn, xé, bóc tước...
- nhật hoa 日華: tinh hoa của mặt trời tức là ánh sáng rực rỡ soi dọi có thể giúp người tu tiên khỏe mạnh và sống lâu, vạn vật đâm hoa kết trái...v.v...
- can 竿: cây tre, cần câu bằng tre trúc, cán tre...
- lan 攔: cản ngăn, chậm lại.
- tiên gia 仙家: nhà các vị tiên xa lánh trần tục cũng để chỉ nhà các bậc ẩn sĩ chọn cuộc sống đơn giản, tránh xa cõi đời ô trọc..
- vô bán điểm 無半點: không có nửa hạt nào.
- diêu 瑤: vẻ dáng của viên ngọc.
- giai階: thềm nhà..
- hạc lệ 鶴 唳: tiếng chim hạc kêu, tiếng hót của chim hạc. Trong Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du có hai câu thơ: “ Cầm đường ngày tháng thanh nhàn, Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao”(c.2875-2876) Do tích Triệu Biên đời nhà Tấn bên Trung Hoa khi làm quan đến nhiệm sở nào cũng mang theo cây đàn chơi trong phủ đường cùng với một con hạc mà công việc vẫn chạy. Chỉ chỉ sự thanh nhàn dầu có bận việc quan...
- song tà nguyệt 窗斜月: trăng nghiêng vào song cửa.
- chử 渚: bãi đất, doi đất giữa sông có thể làm bến được.
- các 擱: gác, để lên.
- xa 賒: tốn kém, xa xỉ, xa xôi, chậm rãi.
* Bản do Hoàng Khôi tuyển dịch (S.đ.đ tr.126) ở câu 4 dùng chữ “sơn gia” (山家) chữ tiên gia đi cùng với chữ tiên thư ở câu 1 có lẽ phù hợp hơn (sơn gia: nhà cửa các người ở ẩn trên núi, nhà ở vùng núi non).
(Lần đến: ỨC TRAI THI TẬP – Bài 68, 69, 70 và 71)
Dương Anh Sơn

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét