Thứ Tư, 7 tháng 1, 2026

Thơ Của Tô Đông Pha - Bài 54, 55 Và 56

 


THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA - BÀI 54, 55 VÀ 56
Thầy Dương Anh Sơn

THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA

Bài 54

HOÀI THƯỢNG TẢO PHÁT                                                   淮上早發

Đạm nguyệt khuynh vân hiểu giốc ai,                                       澹月傾雲曉角哀,
Tiểu phong xuy thuỷ bích lân khai.                                            小風吹水碧鱗開。
Thử sinh định hướng giang hồ lão,                                            此生定向江湖老,
Mặc sổ Hoài trung thập vãng lai.                                               默數淮中十往來。

Dịch nghĩa:

Trăng mờ nhạt, mây nghiêng trong tiếng còi buồn bã lúc sáng sớm, - Gió nhẹ thổi dòng nước biếc nhấp nháy như vẩy cá. – Cuộc sống này đã định liêu hướng đi (cho ta) phải già nơi chốn sông hồ phiêu bạt! – Giữa sông, lặng lẽ đếm đã mười lần qua lại con sông Hoài!

Tạm chuyển lục bát:

SÁNG SỚM RA ĐI TRÊN SÔNG HOÀI.

Còi buồn, mây sớm trăng mờ,
Gió lay nước biếc nhấp nhô bạc dòng.
Đời này già chốn hồ sông,
Sông Hoài thầm đếm, mười lần lại qua!

Chú thích:

- Hoài: tức Hoài Hà 淮河 hay Hoài Thủy 淮水 là con sông lớn ở vùng trung đông Trung Hoa phát xuất từ núi Đồng Bách 桐柏山 của vùng Hà Nam chảy qua An Huy, Giang Tô rồi đổ vào Hoàng Hải phía đông Trung Hoa.
- hiểu giốc (giác) ai 曉角哀: sáng sớm (hiểu),tiếng còi tù-và làm bằng sừng trâu (giốc, giác) chấm dứt năm canh mang vẻ buồn bã (ai)...
- thủy bích lân khai 水碧鱗開: dòng nước xanh biếc (thủy bích) buổi sớm mai mở ra (khai) ánh sáng lấp lánh nhấp nhô như vẩy cá óng ánh (lân)...
- định hướng giang hồ lão 定向江湖老: đã định liệu hướng đi (định hướng) phải chịu già lão lâu năm trên đường phiêu bạt chốn sông hồ (giang hồ lão)....
- mặc sổ 默數: đếm (sổ) trong sự yên lặng (mặc), thầm đếm hay đếm thầm....

Bài 55

HUỆ SÙNG “XUÂN GIANG VÃN CẢNH” (KỲ NHẤT)      惠崇春江晚景其㇐

Trúc ngoại đào hoa tam lưỡng chi,                                            竹外桃花三兩枝,
Xuân giang thuỷ noãn áp tiên tri.                                               春江水暖鴨先知。
Lâu hao mãn địa lô nha đoản,                                                    蔞蒿滿地蘆芽短,
Chính thị hà đồn dục thướng thì.                                               正是河豚欲上時。

Dịch nghĩa:

Bên ngoài bụi trúc, hoa đào đã nở vài ba cành, - Loài vịt đã biết trước con sông vào xuân nước ấm lên! – Loài cỏ lâu hao mọc đầy khắp mặt đất, loài lau sậy mới nhú mầm nên còn ngắn. – Chính là lúc loài cá nóc muốn ngoi lên!

Tạm chuyển lục bát:

* Bài này đã dịch thơ trước đây (bài 32), nay tạm dịch lại, bổ sung và đính chính....

TRANH “CẢNH CHIỀU TRÊN SÔNG XUÂN” CỦA HUỆ SÙNG (BÀI MỘT)

Hoa đào bên trúc vài cành,
Nước xuân ấm áp, đoán rành vịt sông!
Lâu hao khắp, sậy nhú mầm,
Là khi cá nóc những mong ngoi rồi!

Chú thích:

- Huệ Sùng 惠崇: là một trong chín nhà sư (“Cửu Tăng” như Thích Đạo Tiềm, Thích Tăng Nghiêm...v.v...) có tiếng thời đại Bắc Tống (960-1127). Huệ Sùng là một thiền sư và là một thi nhân, một họa nhân rất yêu chuộng thiên nhiên và sở trường lối vẽ các loài vịt trời, ngỗng, cò...v.v... của sông nước. Sư Huệ Sùng sinh thời khoảng thế kỷ11, thường ngao du sơn thủy ở vùng Giang Hoài, Giang Nam thuộc hạ lưu Trường Giang... Thơ của sư thường giản dị, thanh đạm, chuộng tinh thần tĩnh lặng và tình yêu thiên nhiên mang đậm chất thiền. Bài thơ được biết đến nhiều nhất của sư Huệ Sùng là bài “Xuân giang vãn cảnh 春 江晚景”. Có thể nói rằng thiền sư Huệ Sùng là một nhà sư thiên về mỹ học trong giới Thiền tông Trung Hoa . Năm Bính Dần (1086), Tô Đông Pha làm bài này nhớ lại những cảnh vật trong bức tranh vẽ của Huệ Sùng khi được hồi kinh sau năm năm bị biếm trích ở Hoàng Châu với một tâm sự còn chất đầy những năm tháng phiêu bạt ở đất khách quê người...
- thủy noãn 水暖: nước (sông) ấm áp...
- áp tiên tri 鴨先知: loài vịt sông nước (áp) đoán biết rành rẻ (tiên tri) thời tiết thay đổi...
- lâu hao 蔞蒿: loài cỏ sống được nhiều năm, hoa màu vàng nhạt, mầm non của cỏ có thể ăn được. Cả cây thường được dùng làm thuốc....
- lô 蘆: loài lau sậy ,dùng làm mành treo cửa hay lợp nhà. Còn gọi là “lô vĩ 蘆葦” hoặc “bồ lô 蒲蘆”....
- nha 芽: chồi hay mầm cây cỏ mới nhú ra, nẩy mầm, phát sinh (manh nha)...
- hà đồn 河豚: loài cá nóc thường sống vùng nước mặn hay vùng nước lợ phía các cửa sông đổ ra biển. Cá nóc thân tròn, khi gặp nguy hiểm sẽ phồng lên.Đặc biệt nơi gan và trứng loài cá này chứa chất tetrodotoxin là một loại độc tố rất mạnh gây chết người. Tuy nhiên,biết cách chế biến,cá nóc dầu cực độc vẫn được nhiều người xem là loại thủy sản quý hiếm, có thịt rất ngon.... Cá thường xuất hiện vào mùa xuân ,bơi ngược từ biển vào sông để sinh sản. Loài vịt nước (áp) hay “hà đồn” cảm nhận chính xác sự chuyển mùa của tự nhiên...

Bài 56

HUỆ SÙNG “XUÂN GIANG VÃN CẢNH” (KỲ NHỊ)          惠崇春江晚景其二

Lưỡng lưỡng quy hồng dục phá quần,                                       兩兩歸鴻欲破群,
Y y hoàn tự bắc quy nhân.                                                         依依還似北歸人。
Diêu tri sóc mạc đa phong tuyết,                                               遙知朔漠多風雪,
Cánh đãi Giang Nam bán nguyệt xuân.                                     更待江南半月春。

Dịch nghĩa:

Từng đôi chim hồng quay về muốn tách ra khỏi bầy! – Quyến luyến tựa như người từ phương bắc quay trở về! – Đã biết nơi xa xôi của sa mạc phương bắc nhiều gió tuyết! – Nên vẫn đợi thêm nửa tháng mùa xuân ở Giang Nam nữa.

Tạm chuyển lục bát:

TRANH “CẢNH CHIỀU TRÊN SÔNG XUÂN” CỦA HUỆ SÙNG (BÀI HAI)

Cánh hồng từng cặp tách bầy,
Như người phương bắc quay về nhớ thương.
Bắc xa gió cát tuyết sương,
Giang Nam nửa tháng mùa xuân vẫn chờ!

Chú thích:

- lưỡng lưỡng 兩兩: từng đôi ,từng cặp...
- dục phá quần 欲破群: muốn thoát ra ,muốn tách ra khỏi bầy đàn....
- y y 依依: quyến luyến, lưu luyến, nhớ thương, nhung nhớ (tình cảm dâng tràn không nguôi), rối rít, lao nhao, lưa thưa, trơ trơ, không thay đổi...
- diêu tri 遙知: đã biết ở nơi xa xôi...
- sóc mạc 朔漠: vùng sa mạc rộng lớn ở phương bắc (chữ “sóc” tương tự chữ sóc phong :gió từ phương bắc...)
- cánh đãi 更待: vẫn đợi chờ thêm, càng thêm chờ mong....
- Giang Nam 江南: nằm ở phía đông nam nước Trung Hoa, hạ lưu phía nam của Dương Tử Giang (Trường Giang) với các thành phố xưa nổi tiếng về văn hóa như Hàng Châu, Tô Châu, Thường Châu, Vô Tích...v.v... Nay là các tỉnh Giang Tô, Thượng Hải, Chiết Giang, An Huy, Giang Tây...
- bán nguyệt xuân 半月春: nửa tháng của mùa xuân...

(Lần đến: THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA – Bài 57, 58 và 59)

Dương Anh Sơn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét