Khi có những nghi vấn, bất đồng, tranh cãi trong một vấn đề nào đó, người ta không chỉ dùng lý luận mà còn phải trình ra những bằng chứng cụ thể để thuyết phục rằng mình đúng. Bằng chứng phải là những tài liệu, dữ kiện, vật chứng có giá trị thực sự thì mức khả tín càng cao.
Trong lãnh vực ngôn ngữ, nhất là trong tình trạng người trong nước nói và viết tiếng Việt cách bừa bãi như hiện nay, việc đưa ra bằng chứng cũng không dễ thuyết phục vì tính chủ quan, thiên kiến của người trong và ngoài nước có hai nếp văn hóa gần như đối kháng.
Tài liệu nào khả tín?
Những người Việt Nam hiện nay, nhất là người gốc miền Bắc từng sống hơn 70 năm dưới chế độ Cộng Sản thì chỉ biết đến các tài liệu mà nhà nước CSVN ấn hành và phân phối. Còn những người gốc miền Nam, thụ hưởng nền văn hóa giáo dục miền Nam chỉ tin vào các tài liệu từng có ở miền Nam trước đây, cả những tài liệu ấn hành từ thời vương triều nhà Nguyễn, sau khi chữ Việt được các giáo sĩ Alexandre de Rhodes và Francisco de Pina viết lại bằng mẫu tự Latin.
Giữa năm 1975, nhà cầm quyền Cộng Sản đã ra lệnh thu gom hết sách báo, văn hóa phẩm của cả miền Nam đem ra đốt sạch và ra nghiêm lệnh cấm tàng trữ, lưu hành các văn hóa phẩm đó. Lệnh đốt sách này không miễn trừ cho cả sách giáo khoa và các tự điển. Họ muốn triệt tiêu nền văn hóa văn nghệ nhân bản của chúng ta. Họ muốn tất cả kiến thức phải mang đậm ý thức hệ Mác xít, ngay cả về khoa học kỹ thuật! May thay, trong dân chúng vẫn còn nhiều người can đảm cất giấu nhiều tài liệu mà sau này những người có lòng đã bỏ công sức ra sao chép, chụp hình lại và dần dần đưa lên internet. Hiện nay, có nhiều nỗ lực để in lại những sách cũ.
Phải khách quan mà nhìn nhận rằng, sách giáo khoa và tự điển ngày xưa của miền Nam là có giá trị gần như tuyệt đối. Vì trong một chế độ chính trị dân chủ, tự do, đã hình thành một nền giáo dục ưu tú, hoàn hảo, hữu hiệu, được các cấp từ chính phủ trở xuống quan tâm. Những bậc thầy viết sách giáo khoa cho học sinh các cấp, những nhà biên soạn tự điển và tài liệu là những học giả có thực tài và kinh nghiệm. Những nhà văn nhà báo ngày trước có trình độ, có lương tâm nên viết rất cẩn thận, chọn lọc, cân nhắc từng câu, từng chữ. Có nhiều tài liệu ra đời cả trăm năm rồi; trước khi đảng Cộng Sản nắm quyền năm 1954 ở miền Bắc; nên không ai có thể phủ nhận giá trị mà cho rằng đó là tài liệu của CSVN[i].
Trong khi nền giáo dục xã hội chủ nghĩa thì trái lại; nó nằm dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng Sản mà thành viên thường là những người ít học. Cộng sản chủ trương “hồng[ii] hơn chuyên.” Họ không tuyển chọn và bổ nhiệm nhân sự qua tiêu chuẩn khả năng và kinh nghiệm; mà chọn trước hết, là những đảng viên Cộng Sản tin cẩn, có lòng trung thành tuyệt đối với đảng. Tiêu chuẩn “hồng hơn chuyên” này được áp dụng cho tất cả mọi lãnh vực trong cơ cấu chính quyền của họ, kể cả các ngành giáo dục, khoa học kỹ thuật. “Trăng Liên Xô tròn hơn trăng Mỹ Quốc !!!” Những lãnh tụ Cộng Sản vốn ít học nên có tự ti mặc cảm trước nhân tài, và họ cần người càng ít học để càng dễ sai bảo!
Vì thế, không lạ gì việc sách giáo khoa của Việt Nam Cộng Sản đầy rẫy lỗi chính tả, văn phạm. Các tự điển cũng không khá hơn. Người ta tìm thấy trong cuốn Tự Điển Chính Tả Tiếng Việt của ‘Tiến sĩ’[iii] Hà Quang Năng và ‘Phó Tiến Sĩ’ Hà thị Quế Hương hàng trăm chữ sai nghĩa, sai chính tả; cuốn Tự Điển Việt Nam của ‘Tiến sĩ’ Hoàng Phê cũng đầy những chỗ sai. Văn thư chính thức do Hồ Chí Minh viết vừa sai hỏi ngã, vừa có những chữ kỳ quái như “zu kích, zân tộc, zải fóng, ziệt zặc.” ‘Phó Giáo sư Tiến sĩ’ Lê Đức Luận ở Việt Nam, là nhà ‘ngôn ngữ học,’ khi phủ nhận chữ ‘chia sẻ’ mà bênh vực chữ ‘chia xẻ,’ đã bướng bĩnh cãi rằng “Chia tức là phải xẻ ra, còn ‘sẻ’ không có nghĩa gì cả! Chia mà không xẻ ra thì không chia được!” Còn ‘Giáo sư Tiến sĩ’ Nguyễn Văn Khang, một nhà biên soạn tự điển thì coi cả hai chữ “chia sẻ và chia xẻ chỉ là một từ với hai dạng chính tả đều được chấp nhận.”
Trong tất cả các Tự điển mà chúng tôi tra cứu (Tự Điển Tín Đức, Hỏi Ngã Chính Tả Tự Vị, Sổ Tay Chính Tả Tiếng Việt, Tự Điển Việt Anh của chính VNCS ấn hành) đều có các định nghĩa phân biệt hai chữ ‘xẻ’ (split) và ‘sẻ’ (share) kèm theo các thí dụ rất rõ ràng. Thử hỏi trong câu ‘nhường cơm sẻ áo,’ có nghĩa là bớt đi một chiếc áo của mình để nhường cho người, chứ chẳng lẽ phải ‘xẻ’ chiếc áo ra làm làm hai mảnh?
Sợi tóc chẻ làm tám
Khi đăng các bài ngắn giải thích các chữ bị dùng sai, chúng tôi cũng bị vài vị phê phán là “vạch lá tìm sâu,” “chẻ sợi tóc làm tư.” Có vị lại phàn nàn “sao cứ đem chữ Hán vào đây nữa? Bọn Tàu là kẻ thù truyền kiếp mà. Bộ muốn tiếp tục làm nô lệ cho Tàu sao?”
Ông nhà báo Nguyễn Gia Quốc đã ưu ái tặng chúng tôi biệt danh “Ông Chẻ Chữ.” Sợi tóc của người trung bình dày 70 micrometers, chẻ làm tư thì cũng 17 microns. Trong khi kỹ thuật điện tử ngày này đã ở tầm nanometer (một phần ngàn của micron). Vậy thì, sợi tóc chẻ làm tư thì đã ăn nhằm gì! Chữ nghĩa còn có thể chẻ ra làm nhiều lần hơn nữa mới giải thích đủ. Ngôn ngữ nước nào cũng có những tinh tế của nó. Sự phong phú thể hiện qua nhiều cách dùng chữ khác nhau trong từng trường hợp. Ví dụ có nhiều mạo từ dùng cho từng chủ từ khác nhau; nhiều tĩnh từ diễn tả cho những danh từ mang ý nghĩa khác nhau; nhiều loại từ dùng cho từng loài vật, vật dụng khác nhau. Không thể nghèo nàn, kỳ cục như kiểu ‘cụm từ,’ ‘chùm ảnh,’ ‘chùm thơ’ thay cho ‘nhóm chữ,’ ‘xấp ảnh,’ ‘tập thơ.’ Mới đây, một anh bạn ở Canada có gửi hình một youtube có tựa đề giới thiệu “Nàng Thơ Bolero Đỉnh Nóc Kịch Trần.” Một ký giả khi viết về Little Saigon: “... Cái tên Little Saigon là đây. Người ta đã yêu kiều đặt địa danh này cho một vùng đất xa quê hương hơn nửa quả địa cầu....” Trong phần tiếng Việt quảng cáo cho chương trình vũ kịch Nutcracker, có câu “tại nơi trình diễn sự kiện chìm đắm.” Một nhà bình luận văn thơ trên báo Trẻ Dallas, số 1467 đã viết “... Nguyên Yên là một tác giả trẻ. Thơ cô có những gợi mở tới những chân trời lạ... nhưng vẫn giữ được thẩm mỹ từ của thi ngữ. Dòng thơ hiện đại của cô bật lên được nhạc chữ rất riêng của thơ tự do...” Thú thật, đọc xong mà cứ lùng bùng như sa vào mê hồn trận; chẳng hiểu nổi các nhóm chữ này nghĩa ra sao. Có lẽ phải lập đàn cầu cơ cụ Phạm Quỳnh hay cụ Huỳnh Tịnh Của để hỏi thôi!
Việc phải dùng Hán tự để phân tích là tất yếu.
Có tỷ lệ rất cao con số từ ngữ Việt xuất phát từ Hán tự. Nhiều người tỏ lòng tự ái dân tộc, đòi tẩy chay những gì thuộc về Trung Hoa. Như thế là quá cực đoan. Văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa cả ngàn năm. Ngay cả sau khi bắt đầu có chữ Nôm thời nhà Trần, chữ Hán vẫn được dùng chính thức trong hành chánh của các triều vua Việt Nam. Mãi cho đến năm 1869, chính quyền mới ban hành nghị định dùng chữ Việt (gọi là Quốc Ngữ) thay chữ Hán, và mười năm sau mới hoàn toàn dùng chữ Việt trong giáo dục. Nhưng cũng phải đến năm 1918, kỳ thi Hương (bằng Hán văn là ngôn ngữ chính thức) cuối cùng ở kinh đô Huế mới thực sự cáo chung nền khoa cử Nho học (Hán học). Trong lịch sử giao lưu của nhân loại, việc du nhập thêm văn hóa nhiều nước khác để làm giàu cho văn hóa mình là lẽ thường tình. Tẩy chay Hán tự, thì tiếng Việt sẽ chẳng còn bao nhiêu. Có phải trong rất nhiều trường hợp., chúng ta phải dùng chữ gốc Hán thay vì chữ Việt thuần túy – như khi nói về những phần nhạy cảm trên cơ thể chúng ta! Hiểu biết tiếng Việt không tách ra khỏi sự nghiên cứu tiếng Hán. Cũng vì không hiểu nghĩa của chữ Hán gốc mà người ta đã ghép sai và nói sai nhiều chữ. Nếu không chấn chỉnh thì sẽ đi về đâu? Xin đơn cử vài ví dụ:
· Phi có mười bảy chữ Hán viết khác nhau và nghĩa khác nhau, mà nghĩa thường dùng là bay 飛 (phi cơ, phi trường, phi công, phi hành, vân vân). Phi vụ là chuyến bay, không thể dùng như phi vụ ăn cướp, phi vụ đánh ghen, phi vụ buôn lậu (trên bộ).
· Tài có sáu chữ có nghĩa khác nhau, trong đó ‘tài’ 財 nghĩa chính là của cải, tiền bạc (tài sản, tài chánh, tài ngân, vân vân). Vì thế, chỉ có tài khoản ngân hàng, chứ không thể có tài khoản các dịch vụ internet như tài khoản Yahoo, tài khoản Facebook.
· Kinh điển 經 典là sách vở, phép tắc; không thể có cái gọi là giọng ca kinh điển, tấm ảnh kinh điển!
· Chữ Sỉ 恥 (dấu hỏi) là sự xấu hổ, nhục nhã; không thể lầm lẫn với “Sĩ” 士 (dấu ngã) là học trò. Do đó ‘Tu Sĩ’ 修 士 là người đi tu khác với ‘Tu Sỉ’ 羞 恥 là điều xấu xa, đáng hổ thẹn.
· Sản 產 là sinh ra, làm ra; sản lượng 產 量là số lượng hàng được làm ra. Nhưng cả ba cơ quan lớn là Bộ Giao Thông, Cục Hàng Không, và Thông Tấn Xã Việt Nam của nhà nước Việt Cộng đã phổ biến bản tin nhan đề: “Sản lượng hành khách thông qua các cảng hàng không tăng gần 24%.” Họ còn dùng chữ “Tổng thị trường hành khách.” Chẳng lẽ hành khách trên các chuyến bay là những thứ hàng hóa mà họ đẻ ra, làm ra chăng?
· Trong khi ‘Quí Tử’ 貴 子 là con cưng, thì “Quí Nam, Quí Nữ” là con trai út, con gái út[iv].
Tóm lại, dù là một môn trong lãnh vực nhân văn, ngôn ngữ cũng phải có tính cách khoa học và khi nghiên cứu, phải thật khách quan, bỏ qua một bên những định kiến chính trị, kỳ thị quốc gia. Những người hoạt động trong truyền thông, văn học mang một trách nhiệm rất lớn trong việc bảo vệ quốc ngữ; vì thính giả, độc giả sẽ lấy văn chương chữ nghĩa của họ làm mẫu mực mà học theo.
Tiếng Việt còn và giữ được sự trong sáng, thì nước Việt mới tồn tại bền vững và thịnh vượng.
[i] Chúng tôi từng gặp những người bướng bỉnh cãi rằng “đã chắc gì các tự điển ngày xưa là đúng!”
[ii] Màu hồng (đỏ) là màu biểu trưng của Cộng Sản.
[iii] Sở dĩ chúng tôi đặt các học vị này trong ngoặc đơn, là do chúng tôi đánh giá đa số những bằng cấp trong chế độ CS không có giá trị.
[iv] Trong nhiều bản cáo phó, khi liệt kê người trong tang quyến, đã ghi lẫn lộn giữa Hán và Việt. “Trưởng Nam, Trưởng Nữ” nhưng lại ‘dâu, rể, út nam, út nữ...” Nếu không biết hết chữ Hán để gọi hết mọi người, thì thà cứ viết toàn chữ Việt cho đồng nhất. Xin nhắc vài chữ Tức là con dâu (trưởng tức, thứ tức, quí tức là dâu trưởng, dâu thứ, dâu út), tế tử là con rể, quí nam là con trai út, quí nữ là con gái út...


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét