Thứ Ba, 27 tháng 1, 2026

Thơ Của Đỗ Phủ - Bài 108 Và 109

 


THƠ CỦA ĐỖ PHỦ - BÀI 108 và 109
Thầy Dương Anh Sơn 

THƠ CỦA ĐỖ PHỦ

Bài 108

CÁC DẠ                                                                                     閣夜

Tuế mộ âm dương thôi đoản cảnh,                                             歲暮陰陽催短景,
Thiên nhai sương tuyết tế hàn tiêu.                                            天涯霜雪霽寒霄。
Ngũ canh cổ giốc thanh bi tráng,                                               五更鼓角聲悲壯,
Tam Giáp tinh hà ảnh động diêu.                                               三峽星河影動搖。
Dã khốc kỷ gia văn chiến phạt,                                                  野哭幾家聞戰伐,
Di ca sổ xứ khởi ngư tiều.                                                          夷歌數處起漁樵。
Ngoạ long dược mã chung hoàng thổ,                                       臥龍躍馬終黃土,
Nhân sự âm thư mạn tịch liêu.                                                   人事音書漫寂寥。

Dịch nghĩa:

Những ngày tháng cuối năm, thời gian giục giã và cảnh vật như thâu ngắn lại, - Ở góc trời ,tuyết sương đã ngớt, đêm lạnh lẽo. – Lúc canh năm,tiếng trống và tiếng tù-và nghe bi ai và mạnh mẽ! – Trên vùng Tam Giáp, bóng dáng các dải sao lay động. (c.1-4)
Ở đồng quê, vang tiếng khóc biết bao nhiêu nhà của thời chiến tranh, - Tiếng ca hát nơi xa xôi, hoang vu của người dân chài và người đốn củi nổi lên! – Rồng nằm đợi thời rồi nhảy ngựa tung vó rốt cùng cũng chết cùng đất vàng cả! – Việc đời và thư từ đang yên ắng ,sự vắng vẻ khắp nơi! (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

CĂN GÁC VỀ ĐÊM.

Tháng ngày giục cảnh cuối năm,
Tuyết sương đã ngớt,lạnh tăm góc trời.
Canh năm bi tráng trống còi!
Động lay Tam Giáp bóng ngời dải sao.
Đồng quê chiến trận khóc ào!
Chài, tiều khúc hát chốn nào hoang sơ!
Đất vàng : nhảy ngựa rồng chờ,
Việc đời,thư tín lặng lờ nơi nơi.

Chú thích:

- âm dương 陰陽: chỉ thời gian nói chung, chỉ đêm ngày, ngày tháng ,chỉ tính âm và tính dương của muôn vật trong đó có thời gian....
- thôi đoản cảnh 催短景: thôi thúc,giục giã làm cho cảnh vật như thâu ngắn lại theo sự thay đổi của ngày tháng và tâm trạng con người....
- tế 霽: mưa đã ngớt hay đã tạnh, tuyết ngừng rơi...
- tiêu 霄: khoảng trời không, mây hay sương mù, cùng nghĩa với ban đêm 宵.
- Tam Giáp 三峽: hay còn gọi là Tam Hiệp, Tam Hợp. Đây là là nơi ba hẻm núi nằm kẹp hai bên khúc sông Dương Tử (Trường Giang) ở vùng Trùng Khánh kéo dài đến Hồ Bắc bên Trung Hoa gồm có: 1/ Cù Đường Hiệp 瞿塘峽, hẻm núi ngắn nhưng hiểm trở. 2/ Vũ Hiệp 巫峽 và 3/ Tây Lăng Hiệp 西陵峽 là hẻm dài nhất gần Nghi Xương. Vùng Tam Hiệp là nơi Đỗ Phủ đi lánh nạn An Lộc Sơn thời Đường Huyền Tông...
- tinh hà 星河: dải sao tập hợp các vì sao (tương tự nhu dải Ngân Hà: dải sao tụ họp nhau như một con sông loáng bạc trên trời)...
- kỷ gia văn 幾家聞: nghe thấy không biết bao nhiêu nhà...
- di ca 夷歌: chữ “di” thường được người Hán bên Trung Hoa xưa thường tự cao cho rằng vùng trung nguyên của họ là trung tâm của nền văn minh!
Người Hán thường miệt thị những người vùng Hoa Hạ và cả những bộ tộc ở phía tây, phía bắc ,xem họ là người của vùng man di 蠻夷, trong đó có vùng Giao Chỉ của người Việt xưa! Nhưng trong bài thơ này, Đỗ Phủ đang đi lánh nạn ở vùng tây nam của Tam Hiệp xa xôi còn hoang sơ nên nghĩa sẽ khác.
Nhà thơ dùng chữ “di ca” để chỉ lời ca tiếng hát mộc mạc, giản dị của người dân nghèo hay kẻ chài, kẻ đốn củi ở chốn xa xôi này. Đó là những khúc hát rời rạc, lác đác, thê lương trong bầu không khí chiến tranh loạn lạc (ở câu thứ 5 phía trên)...
- câu 7: Ngọa long dược mã chung hoàng thổ 臥龍躍馬終黃土: “ngọa long 臥龍” là từ được dùng để chỉ những kẻ anh hùng tài cao như Gia Cát Lượng Khổng Minh được ví như con rồng đang nằm chờ thời cơ thuận lợi sẽ nhảy lên ngựa (dược mã 躍馬) tung vó thỏa chí tang bồng. Nhưng rồi “những con rồng” ấy cuối cùng cũng đi đến cái chết về với đất cát vàng thôi ! Đỗ Phủ không dám so sánh mình với những kẻ anh hùng kia mà ngầm nói rằng dẫu cho mình có tài bậc nào cũng đều đi đến chỗ hóa thành cát bụi như thế thôi. Đó là mệnh trời trong tư tưởng người Trung Hoa......

Bài 109

XUÂN VỌNG                                                                           春望

Quốc phá sơn hà tại,                                                                   國破山河在,
Thành xuân thảo mộc thâm.                                                       城春草木深。
Cảm thì hoa tiễn lệ,                                                                    感時花濺淚,
Hận biệt điểu kinh tâm.                                                              恨別鳥驚心。
Phong hoả liên tam nguyệt,                                                        烽火連三月,
Gia thư để vạn kim.                                                                    家書抵萬金。
Bạch đầu tao cánh đoản,                                                            白頭搔更短,
Hồn dục bất thăng trâm.                                                             渾欲不勝簪。
(năm 757)

Dịch nghĩa:

Đất nước bị tàn phá nhưng núi sông vẫn còn! – Mùa xuân trong thành cỏ cây rậm rạp, um tùm... - Cảm thương cho thời thế, loài hoa cũng thấm đẫm lệ! – Oán hận vì nỗi chia ly, loài chim cũng giật mình!. (c.1-4)
Lửa đã nổi lên liên tiếp ba tháng! – Thư nhà đáng muôn vàng. – Cào
mái đầu đã bạc lại càng thưa hơn! – Hoàn toàn chẳng làm được khi muốn cài chiếc trâm lên đầu! (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

NGÓNG XUÂN 

Núi sông còn, nước nhà tan!
Thành xuân cây cỏ mọc lan rậm rà .
Thương thời thế ,lệ đẫm hoa!
Rùng mình chim chóc ,chia xa hận tràn.
Chiến tranh ,nổi lửa ba trăng,
Thư nhà đáng những muôn vàng đã chưa!
Cào đầu tóc bạc thêm thưa!
Hoàn toàn chẳng được, muốn đưa trâm cài!

Chú thích:

- hoa tiễn lệ 花濺淚: loài hoa vấy lệ, hoa cũng thấm đẫm nước mắt...
- hận biệt 恨別: oán ghét, căm giận nỗi chia ly, cách trở....
- phong hỏa 烽火: đốt lửa lên làm hiệu là hình ảnh biểu tượng cho bầu khí chiến tranh binh lửa (phong 烽 : đốt lửa hay nổi lửa để ra hiệu báo tin cho biết...) ... Ngày xưa ,các vùng biên ải phía bắc và phía tây Trung Hoa thường bị các bộ tộc bên kia biên ải đem quân đánh phá nên các triều đại bấy giờ thường cho dựng các đài trên núi cao vùng quan ải để quan sát và nổi lửa báo hiệu cho hậu phương biết có quân địch xâm lấn gọi là “Phong hỏa đài 烽火台“. Phong hỏa là hình ảnh của chiến tranh ,binh đao loạn lạc...
- tao cánh đoản 搔更短: cào hay gãi (tao) làm cho (mái tóc bạc) càng thêm (cánh) thưa thớt... Đỗ Phủ trong bài “ Mộng Lý Bạch 夢李白” có câu “Xuất môn tao bạch thủ 出門搔白首”( Ra cửa gãi mái đầu đã bạc)
- hồn 渾: trợ từ chỉ sự hoàn toàn, đầy khắp, vẻn vẹn....
- bất thăng trâm 不勝簪 : không cài trâm được... (bất thăng: không làm nổi, làm chẳng được...)

(Lần đến: THƠ CỦA ĐỖ PHỦ - Bài 110 và 111)

Dương Anh Sơn


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét