Thứ Bảy, 7 tháng 8, 2021

Những Cơn Mưa Kỳ Quái Và Bí Ẩn Nhất Hành Tinh



KHÁM PHÁ VỀ BÍ MẬT CỦA NHỮNG CƠN MƯA ĐỘNG VẬT

NHỮNG CƠN MƯA KỲ QUÁI VÀ BÍ ẨN NHẤT HÀNH TINH

Sau trận mưa lớn, những nóc nhà, đường phố, vỉa hè đều được phủ kín bởi những đàn cá sinh động. Cảnh tượng như vậy không chỉ xuất hiện trong phim "A Good Show", nó còn được ghi lại không biết bao nhiêu lần ngoài đời. Hiện tượng hiếm gặp này thường được gọi là "mưa động vật".

Trong nhiều ghi chép khác nhau, những cơn mưa động vật xuất hiện không nhất thiết phải là cá từ trên trời rơi xuống với mưa lớn. Đôi khi chúng là sinh vật biển như bạch tuộc và động vật có vỏ, đôi khi chúng cũng là động vật lưỡng cư như ếch và cóc, thậm chí có một số ghi chép về mưa nhện.

Những người có một chút kiến ​​thức về mưa động vật có thể nhớ một cách mơ hồ một trong những giải thích khoa học phổ biến nhất về nó: những động vật này bị kéo lên cao bởi một cơn lốc xoáy khi đi qua đại dương hoặc các vùng nước, và sau đó rơi xuống khi tốc độ gió giảm.

Mặc dù nghe có vẻ hợp lý, nhưng suy đoán này không được hỗ trợ bởi dữ liệu quan sát thực tế, cũng như không thể giải thích tất cả các sự kiện mưa động vật. Theo ghi nhận, những trận mưa động vật từng xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới vẫn là một "sự kiện bí ẩn" với nhiều đồn đoán nhưng chưa có kết luận.

Ghi chép của con người về mưa động vật có một lịch sử lâu đời. Có niên đại từ thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, nhà tự nhiên học người La Mã - Pliny The Elder đã ghi lại một cơn bão kèm mưa lớn, theo đó là cả ếch và cá. Cơn mưa động vật gần gũi nhất với chúng ta về cả thời gian và không gian là bạch tuộc và sao biển đã được lan truyền rộng rãi trên Weibo sau một trận bão ở Thanh Đảo, Trung Quốc vào tháng 6/2018.

Thực tế là đã có hơn 20 báo cáo về những cơn mưa cá trong 161 năm kể từ năm 1860. Rõ ràng mưa cá là trận mưa động vật phổ biến nhất trong số các trận mưa động vật. Đất nước thường xuyên xảy ra mưa cá nhất trên thế giới là Honduras, tại một ngôi làng tên là Yoro, những vụ việc như vậy xảy ra thường xuyên đến mức người dân địa phương tin rằng cứ đến mùa hè là sẽ xảy ra mưa cá.

Kể từ năm 1998, một lễ hội mang tên Pelus de Lluvia đã được tổ chức tại đây hàng năm để kỷ niệm hiện tượng này. Nhưng họ không thực sự tin vào cái gọi là giải thích khoa học. Theo truyền thuyết địa phương, trận mưa cá là do linh mục người Tây Ban Nha José Manuel de Jesus Subirana gây ra - người đã đến Honduras để giảng đạo vào thế kỷ 19, nhìn thấy sự nghèo khó của người dân địa phương, vị linh mục này đã cầu nguyện Chúa trong ba ngày ba đêm để đổi lấy cá cho người dân địa phương.


Vì những cơn mưa cá nổi tiếng ở Honduras, cộng với một số báo cáo về sự cố mưa cá từ Canada, Mexico và Úc, nhiều bài báo hoặc video ngắn giới thiệu về mưa cá đã mô tả nó như một "chiếc bánh trên bầu trời" độc nhất vô nhị ở các nước phương Tây.

Tuy nhiên, trên thực tế, gần một nửa số trận mưa cá xảy trong thời hiện đại đều ở các nước như Singapore, Ấn Độ và Philippines. Trận mưa cá được ghi nhận ở Singapore vào ngày 22 tháng 2 năm 1861 là một trong những trường hợp được ghi nhận sớm nhất trong thời hiện đại.

Theo ghi nhận, sau ba ngày mưa lớn liên tiếp, những con cá xuất hiện trong làn không khí loãng đã được tìm thấy ở nhiều vũng nước địa phương ở Singapore. Độc giả am hiểu về địa lý có thể đã phát hiện ra rằng, dù là Honduras hay Singapore, những địa điểm ghi nhận mưa cá đều nằm ở các khu vực ven biển trên thế giới. Nếu phân loại thêm các địa điểm này, chúng ta cũng có thể kết luận rằng các vụ mưa cá thường xuyên xảy ra hầu hết là ở các khu vực ven biển của đại dương.

Điều này dường như khẳng định giả thuyết “mưa cá là do lốc xoáy, vòi rồng hình thành” - xét cho cùng, các vòi rồng hình thành trên mặt biển ở các vùng ven biển có nhiều khả năng cuốn theo các sinh vật biển trên đất liền. Nhưng sự thật không đơn giản như vậy.

Đầu tiên là việc các loài động vật từ trên trời rơi xuống hầu như đều thuộc cùng một loài trái ngược với sự “tấn công bừa bãi” của những cơn lốc xoáy, vòi rồng bởi chúng chỉ có thể kéo theo những vật thể ngẫu nhiên ở mỗi nơi mà chúng đi qua. Tuy nhiên, theo ghi nhận, mỗi khi mưa động vật xảy ra, những thứ rơi xuống xuống hầu như chỉ là một loài. Cho dù đó là mưa cá ở Honduras hay Singapore; mưa nhện ở Australia và Brazil; hay thậm chí là mưa ếch ở Nhật Bản và Uruguay. Sau cơn mưa lớn, người dân địa phương tìm thấy một số lượng lớn động vật trên đường phố thuộc cùng một loài chứ không phải hỗn hợp cá và các sinh vật có cùng kích thước.


Một vấn đề khác là nhiều con cá vẫn còn sống khi chúng được tìm thấy, trong khi đó nước trong vòi rồng thường là nước được ngưng tụ từ hơi nước. Ngay cả khi rất nhiều loài cá nhỏ có thể bị mắc kẹt và di chuyển trong một quãng đường dài, hầu hết chúng sẽ chết yểu do chuyển động dữ dội sau khi tách khỏi môi trường nước.

Tuy nhiên, mưa động vật còn được hình thành bởi một số sinh vật bay như chim, có thể được giải thích hợp lý hơn. So với sự thú vị bí ẩn về nhưng sinh vật trên đất liền và sinh vật biển từ trên trời rơi xuống, thì việc những cơn mưa sinh vật bay được hình thành đều do các vấn đề về môi trường hoặc do thời tiết xấu, con người bắn pháo hoa và tiếng ồn đô thị, hay khí độc cũng có thể dẫn đến các vấn đề như mất phương hướng, tử vong do va phải cây khi bay, hoặc chóng mặt và ngã xuống đất đồng loạt.


Tất nhiên, cũng có những yếu tố tự nhiên. Đài quan sát khí tượng Texas, Hoa Kỳ đã từng chụp được hình ảnh Doppler về một đàn dơi lao vào một cơn bão, và xác của những con dơi này chắc chắn sẽ rơi xuống khi cơn bão kết thúc.

Vì vậy, quay trở lại câu hỏi ban đầu, cơn mưa động vật bí ẩn bắt đầu do nguyên nhân nào?

Nếu chúng ta xem lại chi tiết của tất cả các hồ sơ về mưa động vật, chúng ta sẽ thấy có điều gì đó rất đáng ngờ. Có nghĩa là, chỉ có trận mưa động vật đến từ các loài chim mới có thể chứng minh rằng những xác chết này từ trên trời rơi xuống, còn đối với tất cả các loài động vật như cá, ếch và nhện (không bao giờ bay), thì trận mưa động vật mà chúng tạo thành chưa bao giờ được ống kính nào chụp được khoảng khắc chúng đã rơi từ trên trời xuống.

Phát hiện của một số nhà nghiên cứu ở Honduras cung cấp một lời giải thích mới đáng tin cậy hơn.

Khi họ vội vã đến hiện trường, sau khi nghe tin rằng có một trận "mưa cá" và phát hiện ra rằng những con cá này là loài có thị lực bị suy giảm nghiêm trọng - có nghĩa là, chúng có khả năng sống trong một môi trường tối tăm như cống rãnh. Lâu ngày do mưa lớn làm cống rãnh, nước dâng lên và chúng nhẩy ra khỏi mặt nước.

Cái gọi là mưa ếch, mưa nhện và thậm chí là mưa rắn trong các ghi chép cổ xưa có nhiều khả năng là do sự cưỡng bức di cư ồ ạt sau cơn mưa vì vùng đất trũng nơi động vật sinh sống bị mưa lớn xâm chiếm.

Tuy nhiên, do sự khan hiếm và khó đoán trước được sự xuất hiện thực sự của mưa động vật nên dường như không có nhóm nghiên cứu khoa học nào chịu bỏ ra nhiều thời gian và tâm sức để thực hiện nghiên cứu và sau đó vén màn bí ẩn của vấn đề.


Mưa rắn, mưa ếch, mưa cá, hay... MƯA MÁU chỉ là 1 trong những cơn mưa kỳ dị, kỳ quái, kỳ lạ trên hành tinh của chúng ta. Cùng khám phá xem có những trận mưa khó tin nào đã từng xảy ra nhé.

Xin mời quý vị xem video



Hồi Hương Cuối Hạ

 



Thứ Sáu, 6 tháng 8, 2021

Ngủ Riêng Giúp Vợ Chồng Hạnh Phúc Hơn?

 

Ngủ riêng phòng cho phép các cặp vợ chồng điều chỉnh giờ giấc phù hợp hơn. Minh họa: Brightside.

VÌ SAO NGỦ RIÊNG GIÚP VỢ CHỒNG HẠNH PHÚC HƠN?
Thùy Linh

Nhiều người cho rằng ngủ riêng làm giảm hạnh phúc hôn nhân, một số nghiên cứu lại chứng minh 'ly hôn giấc ngủ' có thể là chìa khóa cho mối quan hệ lành mạnh hơn.

Cuộc khảo sát tiến hành năm 2004 trên 1.057 người Mỹ trưởng thành đã kết hôn cho thấy chỉ 14% các cặp vợ chồng nói rằng họ mỗi người ngủ một giường. Trong một cuộc thăm dò với 2.000 người Mỹ trưởng thành do công ty chăn ga gối đệm Slumber Cloud ủy quyền thực hiện, gần một nửa số người được hỏi cho biết họ thích ngủ một mình hơn là ngủ cùng giường với người bạn đời. Lý do khá dễ hiểu: khoảng 1/5 cảm thấy người bạn đời của họ là nhân tố chính làm gián đoạn giấc ngủ của họ hàng đêm. Vậy thì vì sao ngủ riêng làm vợ chồng hạnh phúc hơn?

Một đêm không ngon giấc có thể biến những người yêu nhau thành những kẻ ghét nhau

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học từ Đại học Y khoa Pittsburgh, ngủ chung giường với bạn đời mắc chứng ngủ không yên/mất ngủ... có thể khiến bạn mất 49 phút ngủ mỗi đêm. Khi một bên không có giấc ngủ ngon vì nửa kia, điều đó có thể sẽ dẫn đến xung đột giữa hai phía vào ngày hôm sau.

Thực tế chỉ ra rằng những cặp đôi có xu hướng ngủ không ngon giấc thường xuyên xảy ra xung đột so với những cặp thức dậy sau một đêm ngon giấc. Mặt khác, những người có giấc ngủ ngon thường có tâm trạng tốt, mức độ căng thẳng thấp hơn và kiên nhẫn hơn.

Sự cáu kỉnh với bạn đời khi họ khiến bạn ngủ không yên có thể làm hủy hoại mối quan hệ.

Ngáy, trằn trọc và trùm chăn kín đầu... là vài trong số nhiều lý do tại sao một số cặp vợ chồng chọn ngủ khác giường hoặc thậm chí khác phòng. Nằm thức lắng nghe người bạn đời của bạn ngáy trong khi bạn không thể đi vào giấc ngủ có thể dẫn đến sự tức giận, căng thẳng và giận dữ đối với đối phương.

Theo Jennifer Adams, tác giả cuốn sách "Sleeping Apart Not Falling Apart", ngủ trong phòng ngủ riêng biệt có thể giúp mối quan hệ phát triển mạnh mẽ vì cả hai đều không bị thiếu ngủ.

Mỗi người có thể chủ động điều chỉnh giờ giấc ngủ cho phù hợp

Tina Cooper - một nhân viên xã hội - ngủ khác phòng với chồng, vì thói quen ngủ của họ trái ngược nhau. "Tôi là một con cú đêm, anh ấy là một người thích dậy sớm. Tôi cần những âm thanh dịu êm để có thể chìm vào giấc ngủ, trong khi anh ấy thích sự im lặng. Anh ấy thích một tấm nệm cứng, còn tôi thích những chiếc gối mềm mại, to. Vì tôi không thích ánh sáng mặt trời đầu ngày, anh ấy đã dành cho tôi phòng ngủ chính, nơi có ít ánh sáng hơn, trong khi anh ấy có căn phòng đón nắng, giúp anh được đón ánh bình minh yêu thích".

Cách bạn dành cả đêm ngủ chung với bạn đời cũng có thể ảnh hưởng đến các hoạt động ban ngày. Sự hài lòng trong hôn nhân cũng như sức khỏe tâm lý và thể chất của bạn vì thế giảm sút. Việc thay đổi bản thân chỉ để làm hài lòng nhu cầu của đối tác có thể gây hại cho mối quan hệ về lâu dài.

Ngủ khác phòng đồng nghĩa với việc cả hai sẽ có một nơi riêng tư, nơi họ có thể thư giãn sau một ngày mệt mỏi.

Giấc ngủ bị xáo trộn có thể có tác động tiêu cực đến sức khỏe của bạn

Trong đêm, não của chúng ta trải qua các giai đoạn của giấc ngủ: ngủ nhẹ, ngủ sâu và REM (ngủ chuyển động mắt nhanh). Tuy nhiên, khi bạn làm gián đoạn chu kỳ này bởi việc thức dậy vào ban đêm, não của bạn dành nhiều thời gian hơn trong giai đoạn ngủ nhẹ và bỏ lỡ giai đoạn REM. Và nếu não không đủ thời gian để hoạt động ở giai đoạn REM, tình trạng cảm xúc và hiệu suất nhận thức của bạn sẽ bị ảnh hưởng.

Giấc ngủ bị gián đoạn cũng có thể gây ra các hậu quả sức khỏe ngắn hạn và dài hạn như tăng huyết áp, các vấn đề liên quan đến cân nặng, các vấn đề sức khỏe tâm thần, giảm chất lượng cuộc sống và các vấn đề liên quan đến sức khỏe khác.

Thùy Linh (Theo Brightside

Những Kẻ Lãng Phí Của Trời Cho

 

Hình minh họa - từ internet 

NHỮNG KẺ LÃNG PHÍ CỦA TRỜI CHO
Tràm Cà Mau

Hơn 55 năm chung sống dưới một mái nhà, ông bà Lê chưa có một ngày không cãi vã, to tiếng và giận hờn nhau. Cuộc khẩu chiến triền miên bất tận đó, chưa ai có lần toan tính mở cuộc hòa đàm. Cả hai ông bà đều là những người kiên trì hạng nhất trên thế giới nầy trong cuộc chiến tranh cục bộ gia đình. Thế mà hai ông bà có với nhau đến tám người con, ba trai và năm gái. Những người nầy nhân lên cho ông bà đến gần ba chục đứa cháu nội ngoại. 

Hai ông bà mở mắt ra là cãi nhau, gầm gừ nhau, nói nặng nói nhẹ, mai mỉa đủ điều. Rồi bà moi những tội lỗi cũ của ông từ thuở Hồng Bàng dựng nước ra mà hạch hỏi, dày vò, bêu rếu. Ông hậm hực, phản pháo lại những lời nặng nề thương tổn. Nhiều khi nghe lời nói đau lòng thốt ra từ miệng chồng, bà Lê ngồi thở dốc như con thú bị thương tích, mặt mày xanh mét. Thấy cái dáng điệu thê thảm của vợ, ông cụ Lê không xót thương mà hả dạ lắm. Bà cứ chờ dịp khi nhà có đông khách, lôi ông ra mà bêu rếu, mà kể tội, làm ông tím mặt, run lên vì giận.

Tám người con của ông bà đều thành đạt, có gia đình, làm ăn khá giả, nhà cửa rộng rãi. Người nào cũng muốn mời ông bà về ở chung cho vui cửa vui nhà, gia đình đoàn tụ ấm cúng. Nhưng những cuộc khẩu chiến triền miên dai dẳng bất tận của hai ông bà từ sáng tới chiều, làm mất yên bình, mất hạnh phúc gia đình của những người con, không ai chịu nổi. Hai ông bà di chuyển từ nhà người con nầy qua nhà người con kia, mỗi nơi ở năm bảy tháng. 

Vấn đề không phải chỉ làm mất hạnh phúc của con cái, mà còn làm gương xấu cho các cháu nhỏ, nên các người con ông bà đều không muốn ở chung nữa. Khi hai ông bà cãi vả hài tội nhau, thì các ông con rể như để ngoài tai chuyện xấu của hai ông bà, như không nghe, không nhớ, nhưng các bà con dâu thì nhạy cảm hơn nên ghi nhớ, và khi có chuyện bất bình với chồng, thì nêu ra mà làm chứng, mà dày vò bêu rếu. Biện pháp tốt đẹp nhất mà những người con ông dàn xếp là thuê nhà cho hai cụ ở riêng, các con thay phiên nhau đến thăm viếng, chở hai cụ đi chợ, đi chơi.

Mỗi lần ông con cả đến thăm bố mẹ, mà chưa nghe hai ông bà cằn nhằn cãi vã nhau, thì ông cười và trêu ghẹo: “ Sáng nay ba mẹ chưa cãi nhau sao? Coi chừng sắp có thiên tai lớn xảy ra dó.” Bà cụ Lê lại bắt đầu kể lể: “Kiếp trước tao tàn sát cả gia đình bố mầy, mắc đại tội, nên kiếp nầy phải còng lưng trả nợ. Mấy chục năm nay bị dày vò đau đớn mỗi ngày, mỗi đêm”. Ông cụ Lê tằng hắng mấy cái lấy giọng, rồi phản pháo: “Chính tôi là người đau khổ nhục nhã mấy mươi năm nay, có ngày nào tôi không bị bà cho những vết chém qua tim đau nhói, bị mất mặt, nhục nhã với bà con, bạn bè, đôi khi còn không dám nhìn thẳng mặt ai”. 

Bà Lê bồi thêm; “Con người xấu xa thì chỉ nên cúi gầm mặt xuống kẻo thiên hạ họ thấy mà ghê tởm.” Ông con trai cắt lời mẹ nói: “Sao mẹ nói bố những lời nặng nề như vậy?” Bà cụ Lê thét lên: “Nói nặng cho ba mầy chừa”. Ông con nhìn mẹ cười mà nói: “Mẹ hay chưa! Năm chục năm rồi mà có chừa đâu, mẹ nói thêm có được gì không?”

Hai ông bà Lê như ghiền cải vã và làm trái ý nhau. Dường như hai ông bà không chịu được cái không khí yên ổn hạnh phúc trong gia đình. Phải xào xáo gây gổ mới vui. Thế mà hai ông bà vẫn cặp kè, đi đâu cũng có nhau. Khi ra đường, nếu ông muốn đi về hướng bắc, thì bà cứ nằng nặc đòi đi về hướng nam, bà muốn đi chậm, thì ông muốn đi nhanh, ông muốn đi xe buýt, thì bà đòi đi taxi. Ông muốn đi ăn phở, thì bà đòi đi ăn mì, nhưng nếu ông đòi đi ăn mì trước, thì bà nhất định phải đi ăn phở cho bằng được. 

Họ không bao giờ muốn làm nhau vui lòng, chỉ muốn làm trái ý nhau, như để trả thù, cho đã tức, đã ghét. Cả hai ông bà đều là người tốt, rất lịch sự vớí bạn bè, với bà con, rất chiều lòng mọi người, ai cũng quý mến hai ông bà. Nhưng hai ông bà thiếu lịch sự với nhau, thiếu nhường nhịn nhau, tranh hơn thua với nhau từng li, từng tí như hai đứa trẻ con hư hỏng. 

Sáu trong tám người con của ông bà Lê, thấy gương xấu của cha mẹ, nên tránh được những cãi vã, hục hặc không đáng có trong gia đình, và đời sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Hai trong số những người con đó, biết những khuyết điểm của cha mẹ, nhưng gương xấu như đi vào tiềm thức, rồi họ cũng hành động y như cha mẹ. Cứ tranh hơn thua, cãi vã với người hôn phối, nói những lời đau độc, và gây bất hòa trong gia đình, mà chính họ cũng không thấy.

Mọi người đều bảo rằng, đáng ra hai ông bà phải hạnh phúc sung sướng vô cùng trong tuổi già, vì con cháu đều sung túc, học hành giỏi giang, hai ông bà lại có sức khỏe, ít đau yếu bệnh hoạn, không phải lo cơm áo hàng ngày. Sướng mà không biết sướng, gây đau khổ cho mình, cho người bạn đời mình. Làm hư hỏng cả ngày tháng trời cho, khi tuổi trẻ cũng như trong tuổi già. 

Đời sống hai cụ có còn được bao lâu nữa, mà tranh hơn thua nhau, hơn cũng không được gì, mà thua cũng chẳng mất gì, thế mà cứ làm cuộc trường kỳ kháng chiến. Mỗi ngày khẩu pháo vào mặt nhau những lời khó nghe, gây đau đớn, bực mình cho nhau. Những người con cụ, cũng tiếc trong tuổi thơ đã mất đi không khí ấm cúng hòa thuận của cha mẹ, và mất đi cả tuổi thơ quý báu. Riêng hai cụ, thì không ai khuyên được, và tự xem như cái nghiệp phải trả. Một đứa cháu lớn, cho rằng, không có cái ‘nghiệp’ nào cả, chỉ có mối sân si trong lòng hai ông bà quá lớn, và nói cho đúng hơn, hai ông bà tuy trọng tuổi, nhưng thiếu hiểu biết về phương sách xây dựng hạnh phúc gia đình.

Tuy thế, hai ông bà vẫn thường lấy lời khôn khéo dạy cách sống cho vợ chồng ông Thu, một người cháu kêu ông bằng chú. Ông Thu nhờ mở được cơ sở thương mại làm ăn khấm khá, tiền bạc dồi dào, ba đứa con đều học giỏi, được vào những lớp học sinh đặc biệt xuất sắc. Tiền bạc thì nhiều, nhưng gia đình không có hạnh phúc, vì bà Thu hay ghen tuông vô lý. Bà luôn hăm he li dị, và kể lể những tội lỗi mà ông Thu không hề có. Ông Thu thường nói với vợ: “ Em xem, anh bận làm ăn đến thế đó, mỗi ngày không đủ thì giờ giải quyết công chuyện, đêm về không có thì giờ giúp con học hành, lấy đâu ra thì giờ khác để nghĩ đến những chuyện cô nầy với bà kia. Vã lại, lấy nhau bao nhiêu năm nay, em đã thấy anh có khi nào có không chung thủy chưa?” 

Nhưng bà Thu vẫn cứ ghen, vẫn cứ nghi ngờ, và dằn vặt ông, làm cho gia đình thêm khó khăn rắc rối. Bà Thu ghen với cả anh em họ hàng nhà ông Thu. Thấy ông Thu nói chuyện thân mật vui vẻ với các ông anh ruột, bà Thu cũng không chịu nổi, và tìm cách phân li họ. Bà còn tìm cách làm cho bà con bên ông Thu xa lánh ông. Nhưng ông Thu lại là người mang nặng tình gia đình, tha thiết với anh em bà con. Vì chị ông Thu đã thay mẹ nuôi nấng chăm sóc ông từ tuổi nhỏ. Những lần có cúng giỗ bên gia đình ông Thu, thì bà Thu cố trì hoãn, cố làm khó khăn, hoặc đến thật trẻ, và khi chưa ăn uống xong đã đòi ra về. 

Thái độ của bà Thu làm anh em bên chồng càng bực bội và ghét ra mặt. Nhiều khi bà Thu giả bệnh để ngăn cản không cho ông Thu đi thăm bà con của ông. Bà thường nói: “ Tôi bệnh, đau đớn, cần có anh bên cạnh, mà anh bỏ tôi đi thăm người khác, anh có thương vợ con đâu.” Thế là ông Thu phải bỏ chương trình đi thăm anh em ruột thịt. Có thời bà Thu cấm những đứa con liên lạc với bà con bên nội, không cho chúng gặp nhau, không cho nói chuyện qua điện thoại. Những đứa con bà dần dà thấy xa cách, lạt lẽo với bà con họ hàng bên nội. Bà Thu chìm đắm trong những cơn ghen tuông vô lý. Có người khuyên ông Thu đem bà đến các bác sĩ tâm lý để trị liệu. Ban đầu bà không chịu đi, vì bà không có bệnh hoạn, và không có vấn đề chi cả, nhưng về sau ông áp lực và hăm dọa, bà Thu đi gặp bác sĩ tâm lý. 

Khi gặp bác sĩ, bà thao thao bất tuyệt về tâm lý, về phương cách làm sao để giữ hạnh phúc gia đình, làm sao cho được chồng thương, dạy con, xử thế. Bà nói đến nỗi ông bác sĩ tâm lý phải cắt ngang lời bà: “ Bà sành về môn tâm lý quá rồi, tôi không còn điều gì để có thể nói với bà cả. Tôi chỉ có thể cho bà một toa thuốc uống mỗi ngày, để làm cho bớt chất kích thích tố tạo ra cái ghen, làm khổ riêng cho bà, và làm khổ cho ông nhà”. Bà Thu cười ha hả trả lời: “ Nầy ông bác sĩ, chính ông mới cần uống thuốc đó hơn tôi, người ta đồn rằng ông ghen mà đánh vợ, bị cảnh sát còng tay, có không?”. Ông bác sĩ chịu thua.

Chị bà Thu thường nói với bà rằng: “Người khác trong hoàn cảnh của em, thì gia đình hạnh phúc, đời sống sung sướng tuyệt vời, em đã phụ lòng trời đất, tự phá hủy cái phước hạnh trời ban cho em. Em cứ đem so sánh với gia đình của chị, chị thua em đủ thứ, ông chồng không giỏi, không hiền bằng chồng em, lại còn ưa nhậu nhẹt bạn bè, con cái chị cũng không học hành xuất sắc như con em, tiền bạc của chị cũng vất vả, thế mà gia đình chị vui sướng, hạnh phúc tràn đầy, chồng vợ vui vẻ, sống trong êm ấm thuận hòa. Em có tất cả mà em không thấy, không hoan hỉ đón nhận. 

Tất cả khổ đau, là chính do em gây ra. May mà chồng em là người có tình nghĩa, chứ người khác, thì họ đã li dị cho đời bớt khổ, rồi tất cả thiệt thòi em gánh chứ ai.” Bà Thu nghe người chị nói rất có lý, có tình, bà cũng rất muốn thực hành theo lời chị khuyên, nhưng không thể nào dẹp được cơn ghen nó âm ỉ ngày đêm đốt cháy trong lòng. Bà tiếp tục gây khó khăn rắc rối cho ông chồng. Rồi một hôm, đang ngồi xem truyền hình, ông Thu duỗi dài trên ghế bành, mắt nhắm như ngủ. Đến khuya, con ông tắt truyền hình, đánh thức ông dậy để vào giường ngủ, thì ông đã chết từ lúc nào không ai biết. Ông Thu bị dồn máu cơ tim mà chết. Bà Thu đau đớn, và chợt biết mình đã mất tất cả. 

Trong tang lễ, bà chị ông Thu cay đắng chỉ mặt bà Thu khóc mà xỉ vả: “ Cô giết em tôi, giết nó chết từ mấy chục năm nay rồi, không phải bây giờ cậu ấy mới chết. Không chừng chết đi, cậu còn sung sướng hơn là sống mà bị cô dằn vặt hành hạ.” Bà Thu biết, tất cả đã muộn màng rồi, đáng ra bà đem phải lại cho chồng niềm an ủi dịu dàng, hơi ấm của gia đình, nhưng bà chỉ biết dày vò, cẳn nhẳn, khóc lóc và làm khổ ông một đời. Bây giờ, thiếu ông, bà mới chợt thấy khủng khiếp khi nhìn vào bao khó khăn của tương lai đang chờ đón.

Bà Thu chơi thân với bà Sa, bà Sa thường ao ước chồng của bà có được một phần nhỏ dịu dàng, rộng lượng nhân từ như ông Thu. Hai bà thường tâm sự về chuyện gia đình, vì cả hai đều cảm thấy bất hạnh, dù mỗi người mỗi hoàn cảnh, không ai giống ai. Bà Sa trong quá khứ đã phạm phải một lầm lỗi, ông chồng không khoan thứ. Nhưng hai người vì thương con, vì tương lai của đàn con, nên không quyết định xa nhau. 

Sống với nhau trong một căn nhà, ăn chung nhau cùng mâm cơm, mà hai người không bao giờ nói với nhau một câu nào tư mười mấy năm qua. Khi có chuyện cần nói lại với nhau, hai vợ chồng bà Sa phải nhắn qua mấy đứa con. Bà biết bà có lỗi, bà biết ông không khoan thứ được cho bà, vì ngày xưa tình nghĩa hai người quá vun đầy. Bà cũng không dám mong ông tha thứ và quên cái lầm lỗi tày trời của bà. Ông thì tấm lòng cứng như núi đá, không ai lay chuyển được. 

Trong một căn nhà mà tình cảm băng giá lạnh lùng. Hai cô con gái lớn đều có nhan sắc, nhiều bạn trai muốn làm quen, muốn lui tới, nhưng chính hai cô thấy khiếp sợ, và hãi hùng vì cho rằng đời sống gia đình là bất hạnh, là khủng khiếp, không dám bước chân vào. Gia đình bà Sa khuyên bà nên chấm dứt đời sống lạnh lùng khủng khiếp đó, thà sống một mình, mà thấy có tự do, có thong thả, và dễ chịu hơn. Bà Sa cũng thấy được điều đó, nhưng không đủ can đảm để đi đến quyết định dứt khoát. Anh em của chồng bà Sa, cũng khuyên ông rằng, chuyện gì cũng tha thứ được, con người ai cũng có lúc yếu đuối sa ngã. Ai cũng có lúc thiếu sáng suốt, nhưng nếu sau đó, biết tìm đường sáng mà đi, thì phải mở đường cho người ta tới. Nếu không tha thứ được, thì phải dứt khoát bỏ nhau, dây dưa với nhau làm chi, cho khổ đời nhau, cho ngày tháng thêm phí phạm. 

Hai vợ chồng bà Sa như quanh năm chìm trong mùa đông bắc cực. Trong nhà không có tiếng cười chung ròn rã. Những nụ cười xô lệch, gượng gạo và che dấu nhau. Trong nhà lúc nào cũng thầm lặng như có tang. Những tia nhìn của ông bà không chiếu thẳng vào nhau. Hai người sống gượng gạo với nhau, và nghĩ là vì hạnh phúc của đàn con. Nhưng đàn con cũng không tìm thấy được hạnh phúc nào dưới mái gia đình đông giá đó.

Bên cạnh nhà bà Sa, là gia đình ông Nam. Ông bà Nam là hai người linh hoạt, vui vẻ, bà con láng giềng đều thương mến. Hai người rộng rãi, tốt, khi nào cũng sẵn lòng giúp đỡ người quen biết trong xóm. Một hôm, bà Nam báo cho bà Sa biết là sẽ bỏ gia đình, qua Pháp sống. Bà Sa tưởng bà Nam bỏ chồng đi theo tiếng gọi của tình yêu, vội vã can dán, bảo rằng; “Người nào cũng đã lớn tuổi rồi, mà phải làm lại cuộc đời từ đầu, cũng là vô cùng khó khăn và mệt nhọc. Chắc chi cuộc tình duyên mới êm đềm và hạnh phúc bằng đời sống hiện tại. 

Ngay cả khi đang còn son trẻ, mà phải làm lại từ đầu, cũng đã mệt lắm. Những quyết định lấy từ sự rung động của con tim thường hay sai lạc rất xa với sư thực.” Bà Sa khuyên bà Nam hãy nghĩ thật kỹ, rồi hãy hành động. Bà Nam thì nói rằng, vì chồng không thương bà nữa, thì bà đi, bà không thể chịu được nhục nhã, hạ mình xuống để xin ai tình thương. Ông Nam thì không hiểu tại sao vợ nói như vậy, vì trong lòng ông khi nào cũng như khi nào, và công cũng chưa làm điều gì trái với đạo vợ chồng. Ông dỗ dành, năn nỉ bà, nhưng bà cứ khăng khăng nhất quyết đòi bỏ ông mà ra đi. Ông không nghĩ bà bỏ ông để theo ai, vì có lẽ chẳng ai còn muốn thấy một vẻ đẹp của một thân thể lắm thịt nhiều chất mỡ, chất béo của bà. Cái vòng bụng lấn lướt hẳn cái vòng ngực, và cái vòng mông thì nổi loạn bành trướng rất vô trật tự. Đôi má chảy xệ, hằn lên những nếp nhăn như vùng địa chấn, thì cũng không là nét đẹp mà người đời ưa chuộng. 

Ông Nam cũng không tin rằng, bà bỏ ông đi vì khả năng sinh dục của ông càng ngày càng suy đồi, không còn được như xưa, và vì chính bà cũng không còn nồng nàn trong việc chăm gối nữa. Đó là chuyện bình thường của người lớn tuổi. Ông yêu cầu bà chứng minh, và nói cho ông biết những sai sót nào của ông làm cho bà có những ý nghĩ đó. Bà chỉ nói mơ hồ, không căn cứ, và nhất quyết bỏ qua Pháp sống với người cháu. Bà giao hết nhà cửa, tài sản cho ông, ra đi hai tay không, chỉ yêu cầu ông phải gởi cho bà mỗi tháng một ngàn đồng để sinh sống. Ông Nam nhờ bạn bè khuyên bảo, và tìm hiểu, nhưng không ai lay chuyển quyết định muốn ra đi của bà. Các con bà khóc lóc, van nài và có đứa giận bà. Cuối cùng ông Nam bằng lòng cho bà ra đi, xem như bà đi thay đổi không khí một thời gian, ông dặn bà khi nào chán ngán thì trở về, cửa nhà luôn luôn mở rộng. Bà qua Pháp ở với người cháu ba tháng, thì chán ngán quay về lại Mỹ. 

Về Mỹ, bà thuê nhà ở riêng, gần khu nhà ông và các con. Thỉnh thoảng ông cũng đến thăm viếng, và buồn không biết vì sao bà vợ trở chứng, chướng kỳ. Rồi bà Nam tính chuyện về lại Việt Nam sống trong tuổi già, tuy không còn nhiều bà con, nhưng bà tin là sẽ tìm được nguồn an ủi và ấm áp của quê hương. Bà lấy hai mươi lăm ngàn tiền tiết kiệm, về mua một căn nhà ở Biên Hòa, sống ở đó. Về quê hương, bà không đi chơi, không thăm thú ai cả, ai đến thăm thì bà tiếp. Chỉ hơn một năm sau, bà trở về lại Mỹ. 

Lý do là bà con xa gần tưởng bà giàu có bạc triệu, đến xin tiền mãi. Người thì xin vài trăm đô vì con đau cần trả tiền bệnh viện, người thì để sửa lại căn nhà bị dột nát, người khác nữa thì để kiếm chút vốn làm ăn, không cho thì không được, chẳng yên lòng, mà cho mãi thì không có tiền. Bị vòi vĩnh nhiều quá, bà không chịu nổi, phải thuê người canh giữ căn nhà, dọn về lại Mỹ ở. Ông Nam lại phải thuê nhà riêng cho bà, và hàng tháng đưa tiền cho bà chi tiêu sinh sống. Ông Nam khổ tâm lắm, nhưng không lẽ đem ra tòa ly dị, cho con cái buồn, mà cũng không giải quyết được việc gì cả.

Có rất nhiều người tự làm khổ mình, khổ gia đình, mà không vì một lý do chính đáng nào cả. Họ đã tự hủy hoại thời gian sống mà trời dành cho họ, phung phí cái tài sản quý báu, thiêng liêng trời cho. Ông trời rất công bằng, cho mỗi người trên dưới trăm năm để sống, mục đích chính yếu của cuộc đời là đi tìm hạnh phúc riêng cho mình, cho gia đình. 

Làm ra tiền, cũng chỉ để mưu cầu hạnh phúc. Danh vọng lớn cũng không ngoài tâm ý hướng về hạnh phúc. Nhưng nếu đời sống thiếu hạnh phúc, thì tiền tài bạc tỷ, danh vọng ngút trời cũng không là ý nghĩa gì cả. Hạnh phúc khó mua được bằng tiền bạc. Hạnh phúc có thể tìm ra dễ dàng khi lòng mình biết đủ, biết chấp nhận cái tương đối của cuộc đời, biết đếm cái đang có, không đếm cái chưa có, và không đứng núi nầy nhìn cái lóng lánh màu sắc của núi bên kia.

Tràm Cà Mau

Thứ Năm, 5 tháng 8, 2021

Tiểu Luận - Ảnh Hưởng Đạo Phật Trong Đoạn Trường Tân Thanh

GIỚI THIỆU

Xin hân hạnh giới thiệu đến quý Thẩy, Cô, quý Đồng Môn và Thân Hữu

Cuốn sách ẢNH HƯỞNG ĐẠO PHẬT TRONG ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH do thầy Dương Anh Sơn, Cựu Giáo Sư Triết trường Nguyễn Huệ Tuy Hòa, Phú Yên biên soạn và chia sẻ.

Chào Ban Biên Tập,

Xin gửi đến phần DẪN NHẬP của cuốn tiểu luận với những bước chính từ 3 câu hỏi:

1/ Tại sao  các tác phẩm văn chương  nói chung và thi ca nói riêng đạt đến trình độ NGHỆ THUẬT vẫn được tìm đọc qua nhiều thế hệ, nhiều thời gian dài lâu.

2/ Tại sao thi ca đạt trình độ nghệ thuật cao thường hàm ngụ những tư tưởng và triết lý sâu sắc bên trong . Đồng thời, nó mang bên trong lẽ Đạo, hiểu đạo như con đường đưa chúng ta đến bầu trời chân thiện mỹ.

3/ Tại sao tư tưởng thiền mà Nguyễn Du từng thâm ngộ sẽ là ánh sáng soi sáng tư tưởng đạo Phật trong ĐTTT, và giải đáp cho chúng ta hình ảnh một Thúy Kiều sau 15 năm đoạn trường trở thành một người an lạc ("Hoa tàn mà lại thêm tươi, Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa" c.3123 -3124 hoặc "Tẻ vui bởi tại lòng này, Hay là khổ tận đến ngày cam lai? c.3209-3210").

Xin chào BBT

Đây là một trong những tác phẩm biên soạn rất công phu và giá trị... Xin mời quý vị thưởng thức.

Trân trọng

NHHN



Tiểu Luận: ẢNH HƯỞNG ĐẠO PHẬT TRONG ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH
Thầy Dương Anh Sơn 

DẪN NHẬP 

Lịch sử văn chương nhân loại đã cho thấy những tác phẩm được người đời hâm mộ hơn cả là những tác phẩm chứa đựng một sức khơi dậy và hấp dẫn sâu xa nơi tâm hồn độc giả. Thật vậy, ngoài cái hay cái đẹp mà lời văn hoặc ý thơ đem đến, cái còn lại một cách bền bỉ nơi người đọc chính là những ý nghĩ, những tư tưởng đã có một cái gì thân thiết và gần gũi với tâm thức của họ. Giữa văn chương và đời sống có mối liên lạc bắt nguồn từ nhận thức của con người trước cuộc đời. Và nhà thơ, nhà văn không phải chỉ là người chú giải cuộc đời hoặc ghi lại theo sự lĩnh hội về một vài điều giao ngộ nào đó giữa trời và đất, giữa con người và thiên nhiên. Công việc này sẽ không mang một ý nghĩa hay một giá trị đích thực nếu chỉ nhắm đến sự mô tả hoặc ghi nhận cạn cợt trước thực tại vô cùng sinh động và phong phú. 

Khi sáng tác, sự phản ảnh trung thực với những điều mình đã sống, đã khắc khoải và trực tiếp với ý nghĩa từng cảm nghiệm không ngừng sẽ là những chất liệu quan trọng để cấu thành và làm cho tác phẩm bất hủ. Cho nên, có thể nói rằng nền tảng của các áng văn chương được nhận thức từ đời sống chính là triết lý hàm súc bên trong. Người ta chỉ biết đến Sophocles, Homère(Homeros), Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy, Bạch Cư Dị, Matsuo Basho, William Shakespeare, Friedrich Holderlin, Nguyễn Du, Johann Wolfgang Goethe, Fyodor M.Dostoyevsky, Lev Nikolayevich Tolstoy, Rabindranath Tagore, Albert Camus, André Gide, Hermann Hesse, Ernest Hemingway, Nikos Kazantzakis… v.v... vẫn còn mãi với thời gian, đằng sau những tư tưởng chất chứa nơi tác phẩm của họ. Thành thử, vai trò triết lý và tư tưởng lúc nào cũng cần thiết để tác phẩm tồn tại liên tục trong lịch sử văn chương, nó có giá trị như một thứ linh hồn tiềm tàng hầu làm cho tác phẩm có một sức sống và khơi dậy những suy nghĩ nơi người đọc. 

Trên chiều hướng ấy, nhà thơ – nhất là nhà thơ Đông phương, đã sử dụng thi ca như là một nghệ thuật cao cả để phô diễn tâm tư của mình. Với họ, thơ là tinh hoa của đời sống và được nẩy sinh từ cuộc đời nên có một địa vị đặc biệt trong lãnh vực văn chương. Các cổ thi Ấn Độ và Trung Hoa như: Veda, Upanisad, Ramayana, Mahabrâta, Kinh Thi... v.v... đều dùng ngôn ngữ của thi ca để diễn đạt. Ngoài ra còn có thể nói thơ đã thâm nhập vào đời sống của người phương Đông như là lẽ đạo. Thơ đồng nghĩa với đạo, hiểu thơ và đạo là cái nhìn thông suốt của lẽ sống. 

Vì thế, ở một mức độ nào đó, thơ, đạo và lẽ sống là một không thể chia lìa nhau. Thi ca là nguồn suối của tình hơn là của lý nên nó dễ dàng phả vào tâm hồn người hơn bất kỳ nghệ thuật nào khác. Ở giữa đó, bầu trời của thi ca không những chỉ nhằm khai mở để từ đó con người có thể tham dự vào đời sống của vũ trụ, của thiên nhiên. Ngôi giáo đường mà con người cần đến cầu nguyện không hạn hẹp trong các khối nhà trơ trọi thiếu sinh khí, nhưng chính là toàn thể vạn vật thiên nhiên chung quanh. Cảm thông và tan hòa vào thế giới rộng lớn như thế, thi ca đòi hỏi một nỗ lực tham dự trọn vẹn chứ không phải nhằm mô tả hoặc nói về những mảnh vụn rải rác bắt gặp giữa đường đi. Nhưng bầu trời của thi ca cũng là bầu trời của lẽ đạo. Trên con đường sáng tạo, có lúc người ta cũng nhận thấy không thể trình bày và giải thích hơn được về sự cảm nhận của mình mà để tự nó mang được một huyền nghĩa nào đó. Đạo vốn không có phân chia và không thể xác định rõ được. Đến với lòng tư dục và niệm phân chia có lẽ sẽ không bao giờ nhận chân được huyền nghĩa của Đạo. Lão Tử đã từng khuyên chúng ta:“Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh…” hoặc “Thường vô dục, dĩ quan kỳ diệu; thường hữu dục, dĩ quan kỳ kiếu (Lão Tử, Đạo Đức Kinh,Chương I)[1]  [道可道非常道,名可名非常名) hoặc (常無欲以觀其妙,常有欲以觀其徼 (老子 - 道德經)]

Đạo có thể là Đạo, không phải là đạo Thường. Danh có thể là Danh nhưng không phải là danh Thường. Không thường có sự ham muốn mới xem thấy được chỗ huyền diệu. Thường có sự ham muốn, chỉ thấy được chỗ ngăn cách chia lìa.  Trước thiên nhiên vạn vật,một nhà thơ đích thực (không phải là người biết làm thơ) sẽ dùng ngôn ngữ để diễn tả sự cảm nhận hoặc những rung động của mình. Nhưng rồi ngôn ngữ cũng phải bặt tiếng để huyền nghĩa xuất hiện trong dáng vẻ hết sức vi tế của nó. Chúng ta đã thấy Heidegger cũng nhiều lần nhận ra ý nghĩa của các huyền nghĩa trong ngôn từ. Giữa ngôn từ và tính thể (Phusis, Polemos, Logos, Schein…) luôn luôn có một tương quan mật thiết với nhau và không tách biệt nhau được[2]  

Tính thể qua ngôn ngữ của thi ca thường nằm ở tư thế nước đôi giữa sự “khai mở” và sự “ẩn khuất” hoặc giữa sự “tiết lộ” và “bí mật”, tương tự ý niệm “hữu danh” và “vô danh” đan lồng nhau trong nhiều chương Đạo Đức Kinh của Lão Tử. Và cặp tương sinh ấy chính là căn nguyên của chân tính (vérité) và của lẽ đạo. Chúng ta cũng thấy Heidegger đã xác định: “Vấn đề chân tính có thể đạt được trọng tâm nguyên thủy của nó là khi một cách tiên quyết, người ta đã nhìn được tính thể đầy đặn của chân tính và cái nhìn ấy giúp bao hàm được suy tư về “vô chân” (non-vérité) trong sự khai quan của chân tính”[2].

Nói khác hơn, chân tính (A-letheia) chỉ có thể xuất hiện sau khi đã trải qua (Er-eignis-avênement), kinh qua nghiệm lại kể cả đối cực của nó là vô chân nữa. Đồng một ý nghĩa như thế, đạo không thể tách rời đối với đời sống nhưng được tạo dựng từ đời sống xét như một kinh nghiệm .Thành thử, thoạt nhìn tưởng chừng đạo là một cái gì sâu xa, tuyệt đối và vô hạn, nhưng nếu được “trải qua”, đạo sẽ là những gì thật gần gũi, thật tương đối và hữu hạn. Song trong sự gần gũi ấy, cái tương đối lại hàm chứa tuyệt đối và vô hạn. Điều mà nhà thơ tượng trưng qua các danh từ chỉ là bề mặt che giấu một chân trời sinh động đằng sau những ngôn từ. Và nhà thơ khi đi tìm ý nghĩa của cuộc đời tức là lên đường truy tìm lẽ sống. Lẽ sống của một kiếp người, của đời người nằm nơi đâu? Để rồi cuối cùng khi quay về với cõi lòng mình, trở về với hồn nhiên, người ta mới nhận ra được ý nghĩa của đời sống. Mặt khác, lẽ sống chỉ có thể nhận ra trong từng bước đi, trong từng lần khai mở được rút tỉa chắt lọc từ cuộc đời nơi chính mỗi cá nhân đã chứng nghiệm được ý nghĩa hoặc lẽ sống ấy.

Ngoài ra, lẽ sống cũng nằm trong sự hòa hợp giữa con người với cuộc đời, giữa con người với thiên nhiên vũ trụ. Sống tức là phải chấp nhận giới hạn của bản tính của chính mình, chấp nhận trật tự sẵn có nơi mình và của thiên nhiên, chấp nhận hành động và sự đụng chạm với tha nhân và vạn vật bao quanh. Cứ mỗi lần va chạm như thế, con người mới thâm nhập được lẽ sống, thấu rõ lẽ đạo. Và thi ca chỉ là phương tiện để nói lên sự cảm nghiệm đó mà thôi. Thành thử trong thơ có đạo, trong đạo có sự sống. Thơ chất chứa ý nghĩa đời sống, hàm ngụ huyền nghĩa của đạo nên không phải là một thứ phương tiện tầm thường. 

Do đó, công việc khảo cứu hoặc phân tách phê bình thi ca đôi khi chỉ dừng bước trên bình diện chữ nghĩa với lời hay ý đẹp, với những mâu thuẫn bắt gặp, với thành kiến sẵn có với cái nhìn duy lý theo khuôn mẫu... v.v... sẽ không bao giờ nhận chân được lẽ thơ. Vả lại, thơ vốn đòi hỏi người đọc một cái nhìn nhất quán nên không thể dừng lại ở bất cứ một trạm nào cả. Qua Lời để rõ Ý, dùng Ý để đạt Tâm và qua Tâm để bước vào Lẽ Đạo theo một tiến trình biện chứng, vẫn là cách thế và phương tiện để đến với thi ca đã được nhiều người nhìn nhận là có giá trị nghệ thuật cao.

Cho nên, đọc Đoạn Trường Tân Thanh (斷脹新聲) của Nguyễn Du (阮攸), (đúng như nhan đề do Nguyễn Du đặt ra), chúng ta không thể ngắt đoạn hoặc tách rời những mảnh vụn lẻ tẻ hầu qui kết cho tác giả những tâm trạng hay những quan niệm theo khuôn thước chật hẹp. Và tệ hơn nữa, "bắt" tác giả sao không viết  những ý thơ như thế này ,như thế kia cho phù hợp với quan điểm của riêng một trường phái nào đó! Nếu thơ là lẽ đạo thì khi đọc Truyện Kiều với khuôn thước luân lý, khuôn thước của xã hội, khuôn thước của Nho giáo và ngay cả khuôn thước của nhà Phật sẽ còn rất nhiều sự thiếu sót trước một tác phẩm đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật và tư tưởng.

Thơ vốn không trụ chấp vào bất cứ một hình tướng nào gặp gỡ giữa đường đi. Dùng nơm để bắt cá, được cá cần quên nơm. Vì thế, dùng phương tiện hay khuôn thước nào đó để đọc Truyện Kiều cốt là bắt một nhịp cầu tiếp nối hầu có thể tới bến đạo mà tác giả muốn trao gửi. Nếu tới được bến thì tất cả khuôn thước, phương tiện nào có nghĩa gì đâu trước một vùng đất mới mẻ dọc ngang thong thả.

Từ trước đến nay, rất nhiều người bàn luận Truyện Kiều dưới mọi khía cạnh và dưới những cái nhìn khác nhau. Hoặc như Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng… với cái nhìn khe khắt của luân lý. Hoặc như Nguyễn Tường Tam, Phạm Quỳnh, Vũ Đình Long… đã không tiếc lời ca tụng Truyện Kiều như là một quốc thư. Hoặc đả phá Kiều theo quan niệm duy vật như Nguyễn Bách Khoa. Hoặc gán ghép cho Nguyễn Du tâm sự hoài Lê như Đào Duy Anh, Dương Quảng Hàm, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ… Và ngày nay, ảnh hưởng tư trào hiện sinh, người ta đã đi sâu về thân phận nàng Kiều như Trần Bích Lan, Lê Tuyên… Nói chung, bao nhiêu nhà phê bình, nghiên cứu là bấy nhiêu cái nhìn về Truyện Kiều và Nguyễn Du. Tuy nhiên, dù muốn dù không, những nhà nghiên cứu và phê bình nghiêm túc về Đoạn Trường Tân Thanh đều không thể phủ nhận vai trò của tư tư tưởng đạo Phật ít nhiều ảnh hưởng trong đó. Một cách rõ ràng hơn, chúng ta thấy một Trần Trọng Kim đã trình bày cả “Lý thuyết Phật học trong Truyện Kiều”[3]. Đồng thời, một số người khác cũng nêu ra tính chất Phật giáo trong Đoạn Trường Tân Thanh như Đông Hồ, Thanh Nhân, Lê Văn Hòe, Lê Xuân Mỹ[4].

Dầu vậy,  chúng ta chỉ thấy một lối nhìn tư tưởng đạo Phật, theo quan điểm thông thường, quen thuộc về luân hồi, nghiệp báo, nhân quả… mà chưa rút ra được điều gì mới mẻ hầu có thể soi sáng phần nào về Truyện Kiều. Ngoài ra, một số người nhận thấy hiện sinh tính có nhiều điểm gần với tư tưởng Phật giáo nên đã khai thác thân phận nàng Kiều dưới khía cạnh bi đát. Và đây chính là lĩnh vực được nhiều người chú ý đến, xem như là nền tảng của tư tưởng Nguyễn Du trong Đoạn Trường Tân Thanh. Nhưng thật ra, cuộc đời Kiều có phải là biểu trưng tính chất bi đát của đời người và người đời hay không? Nêu câu hỏi này để rồi chúng ta sẽ cố gắng giải quyết vẫn dưới nhãn quan Phật học nhưng với một cái nhìn khác hơn trong suốt đề tài này. Nói khác đi, ở đây chúng ta lại đọc Đoạn Trường Tân Thanh tạm bằng khuôn thước đạo Phật, nhưng hãy xem đó như là phương tiện để tìm hiểu những điểm cốt yếu bên trong mà thôi.  Nhờ phương tiện đó, chúng ta sẽ nhìn thấy cuối cùng nghệ thuật là đích điểm vượt thẳng lên trên mọi khuôn thước. Ở đó, tư tưởng đạo Phật cũng Không, lời hay ý đẹp cũng Không, luân lý cũng Không… Nghệ thuật là sự hòa điệu, là trung đạo, dung hòa tất cả những mâu thuẫn và cả thân phận bi đát của kiếp người. Nói khác hơn nữa, ở một chân trời lý tưởng, nghệ thuật thiết định trên nỗi đoạn trường của Nguyễn Du nhằm “chỉ hướng cho thuyền đời và làm nẩy hoa cho chuộc sống”, nó đã hòa hợp được một bên là những điều phức tạp của đời sống và một bên là niềm vui thanh thoát của lẽ đạo.Vậy nghệ thuật thiết định trên nỗi đoạn trường của Thúy Kiều đích điểm là gì?

Nhìn lại cuộc đời của Tố Như tiên sinh xuyên qua các thi tập lưu truyền, chúng ta càng nhận chân bầu trời nghệ thuật của ông, một con người từng đọc hơn cả ngàn lần kinh Kim Cương đã viết [5]:

“Ngô văn Thế Tôn tại Linh Sơn. Thuyết pháp độ nhân như hằng hà sa số. Nhân liễu thử tâm, nhân tự độ. Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu. Minh kính diệc phi đài. Bồ Đề bản vô thụ. Ngã độc Kim Cương thiên biến linh. Kỳ trung áo chỉ đa bất minh. Cập đáo phân kinh thạch đài hạ. Tài tri vô tự thị chân kinh”.

吾聞世尊在靈山。说法渡人如恒河沙数。人了此心人自渡。靈山只在汝心頭。明鏡亦非臺。菩提本無樹。我讀金剛千遍零。其中奥旨多不明。及到分經石臺下。纔知無字是眞經。(梁昭明太子分經石臺)

(Lương Chiêu Minh Thái tử Phân kinh thạch đài – Bắc Hành Tạp Lục).

Chân kinh vốn không câu chấp chữ nghĩa, cho nên Đào Duy Anh đã nhìn thấy điểm này:

“Cái quan niệm về Phật của Nguyễn Du, không câu nệ bó buộc ở văn tự, chỉ chú trọng về tâm linh, hẳn là chịu ảnh hưởng của Thiền tông…Trong Đoạn Trường Tân Thanh, cái chủ trương “Thiện căn bởi tại lòng ta, chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, cũng là chịu ít nhiều ảnh hưởng của quan niệm ấy”[6]. Trong viễn tượng đó, nghệ thuật đã được thăng hoa, đúng hơn là một nghệ thuật sống, một sự rung cảm cùng nhịp với lẽ đạo. Chúng ta há không nghe Nguyễn Du đã thị kiến huyền nhiệm của nghệ thuật: “Phúc họa đạo trời, cội nguồn cũng ở lòng người mà ra, có trời mà cũng tại ta” (c.2655-2657) hoặc “Tẻ vui cũng tại lòng này”… Mà nghệ thuật chính là mối giao tiếp giữa chứng đắc của tâm thái thiền và cuộc đời. Cho nên, nghệ thuật cao cả của Nguyễn Du trong Đoạn Trường Tân Thanh rốt cùng trở lại thành tục đế, nghĩa là chân lý tương đối một khi chúng ta vẫn loay hoay về các chi tiết nhỏ hẹp, vụn vặt và khuôn thước. Phải bước thêm một bước nữa, vượt thêm một bậc thang nữa chúng ta mới có thể đến chân đế tiến vào ý nghĩa đích thực mà Tố Như tiên sinh đã  thâm ngộ được. Phải chăng ấy là ngụ nghĩa ông đã từng trao cho chúng ta: “Mãn cảnh giai không hà hữu tướng. Thử tâm thường định bất ly thiền” (Đề Nhị Thanh Động – Thanh Hiền Tiền Hậu Tập) (满境皆空何有相。此心常定不離禪 - 题二青洞 - 清軒前後集) 。[7]

Toàn cảnh giới đều là không thì làm gì có sắc tướng, lòng này thường định không rời thiền. Chỉ dưới kiến giải của Thiền, chúng ta mới khai sáng được ý nghĩa nghệ thuật nơi Truyện Kiều mà Thúy Kiều chính là hiện thân của nỗi đoạn trường; đồng thời cũng là biểu tượng của một tâm thức đã thực chứng, đã vượt qua cầu đoạn trường và tiến đến sự giải thoát. Đằng khác, tư tưởng mang dấu tích trong Đoạn Trường Tân Thanh không thể giải quyết được bài học đoạn trường một cách ổn thỏa nếu không thâm hiểu bằng lối nhìn kiến giải của thiền. Nó nhằm trình bày những sự kiện, những biểu tượng để dẫn đến cửa ngõ nghệ thuật như đích điểm không thể hiểu được bằng sự suy nghĩ hay bàn bạc của lý trí. Nếu nền tảng của tư tưởng đạo Phật chứa đựng trong Đoạn Trường Tân Thanh khởi sinh từ nhận thức trước cuộc đời và trong một hoàn cảnh thời đại thì nó phải được đọc và hiểu trong một nhịp điệu tương ứng với hoàn cảnh và thời đại đó!. 

Những phương pháp phê bình đã sử dụng được coi là khách quan cũng như phương pháp phân tích theo lối cơ cấu hiện thời chỉ có một tầm mức thật giới hạn trong việc truy tìm chân nghĩa một tác phẩm nghệ thuật. Do đó, nền tảng của các tư tưởng đạo Phật nơi Truyện Kiều – nói một cách riêng – phải là nghệ thuật mà yếu tính của nó là tính chất tự tại và tự do. Đương nhiên, ý nghĩa của sự tự do này không thể bị lạm dụng một cách tầm thường bằng vào lối hiểu của tri thức luận một lối duy tâm nào đó. Chủ yếu của sự tự do nằm trong sự khai sáng vượt lên trên mọi thành kiến, mọi khuôn thước để bắt gặp một bầu trời thênh thang, khoáng đạt của nghệ thuật và cũng chính là nét vẻ của tư thái thiền. Nói khác hơn, chúng ta không phủ nhận vai trò cần thiết của đường lối, của phương pháp hoặc khuôn thước nào đó nhằm soi rọi vào một tác phẩm đạt đến trình độ nghệ thuật cao như Truyện Kiều. Những cách thế hay khuôn thước này phải được vượt qua và bỏ lại nếu nó không chỉ rõ được ý nghĩa của tư tưởng đạo Phật mà Nguyễn Du đem vào ĐTTT để làm gì! Mặt khác, ngay khi xét xem những tư tưởng đạo Phật được tác giả đưa vào dàn trải khắp tác phẩm cũng nên thấy rõ Tố Như tiên sinh đã sử dụng  các tư tưởng ấy như một thứ phương tiện mà thôi. Đây là những vấn đề mà tiểu luận này cố gắng làm rõ dưới ánh sáng của tư tưởng thiền mà Nguyễn Du từng thâm ngộ như đã đề cập bên trên. Nói cách khác  chúng ta sẽ tìm cách giải đáp chân nghĩa của tư tưởng thiền trong ĐTTT là gì  và nghệ thuật chất chứa bên trong tư tưởng thiền này nên hiểu như thế nào?

Như thế, chúng ta chỉ có thể truy nhận ý nghĩa của tư tưởng đạo Phật trên một căn bản có tính cách toàn diện và trong sự hòa hợp của Nghệ Thuật. Đến đây, những câu hỏi quan trọng khác được đặt ra và cần được minh xác: Thế nào là sự hòa hợp của nghệ thuật? Toàn diện tính chất của tư tưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh là gì? Trước các câu hỏi cấp thiết này, chúng ta có hai trường hợp xử trí thông thường:

- Hoặc là sử dụng các qui chiếu được gọi là khách quan để phê bình.

- Hoặc là ghi nhận theo các phản ứng hay sự rung cảm do các tác phẩm đem lại có tính cách chủ quan.[8]

Cả hai lối trả lời trên cuối cùng đều có những khuyết điểm không thể nào tránh khỏi, vì vẫn cố chấp vào tư thế khách quan hay chủ quan. Đồng thời, cả hai cũng bất lực trước sự khao khát tìm hiểu thế nào là chân lý toàn diện, thế nào là rốt ráo nghĩa của nghệ thuật. Và nếu có trả lời được câu hỏi trên, chúng ta vẫn sẵn sàng hoài nghi về sự thấu hiểu ấy. Chân nghĩa của tư tưởng và nghệ thuật luôn được thiết định trên sự bất khả tư nghị, bất khả định, nhưng có sức lôi cuốn mãnh liệt cũng như chi phối chúng ta không nguôi. Cái đẹp chỉ có thể cảm nghiệm chứ không thể phân tích! Thành thử nói về chân nghĩa hay toàn diện tính của Đoạn Trường Tân Thanh cũng chỉ là đứng ngoài mà nhìn vào một thực tế sinh động, hoặc giả vẫn chỉ là đường lối loanh quanh đi từ ngộ nhận này đến lầm lẫn khác.

Sai lầm căn bản trong sự nghiên cứu và tìm hiểu Đoạn Trường Tân Thanh, nói riêng, và bất cứ tác phẩm nghệ thuật nào khác, nói chung, là luôn luôn nhận xét chúng bằng những phạm trù, phương pháp, hệ thống,… vay mượn của Tây phương. Hoặc dùng những chủ nghĩa này nọ trong thời hiện đại để áp đặt lên một vài sự kiện của câu chuyện đã xảy ra nhiều thế kỷ trước rồi vội vàng qui kết một cách khiên cưỡng! Mặt khác, tinh thần lệ thuộc hình thức bên ngoài hầu như bó buộc chúng ta phải trình bày sự thấu hiểu hoặc cách giải quyết vấn đề căn cứ trên sự rõ ràng, mạch lạc và cần nhất là hợp lý, chứ không lưu tâm đến diệu nghĩa bên trong. Thành thử, chúng ta cần học hỏi một tinh thần cố hữu của Đông phương đã bị bỏ quên khá lâu trong sự tìm hiểu thâm nghĩa ẩn giấu đằng sau mọi chất liệu hoặc ngôn từ cấu thành nghệ thuật, nhất là thi ca.

Đó là phương thế đi thẳng vào chính chất liệu hay ngôn từ, sống trọn vẹn với nó trong một sự tra hỏi liên tục; để rồi một giây phút chín muồi nào đó, chân nghĩa sẽ phơi bày trước mắt. Nhưng trong những bước tìm cầu thâm nghĩa, làm thế nào chúng ta có thể nhìn thẳng chất liệu và vượt lên nó? Đây chính là câu hỏi mà chúng ta sẽ khai triển trong suốt đề tài này. Chúng ta sẽ không có tham vọng hoặc cầu mong đạt đến chân nghĩa tư tưởng đạo Phật trong Truyện Kiều. Chúng ta cũng không nêu ra một phương thế tìm hiểu mới mẻ nào cả để nghiên cứu Đoạn Trường Tân Thanh. Phương thế đó đã sẵn tự bao giờ và chúng ta trong một lối nhìn được coi là khoa học, là hệ thống đã lãng quên nó từ ngay chính cõi lòng chúng ta.

Cho nên, tìm trở lại con đường mờ dấu của người xưa và học hỏi nơi chính Tố Như tiên sinh, chúng ta sẽ bắt gặp phương thế này như là cửa ngõ đến với nghệ thuật. Nghĩ về, bàn bạc về chân nghĩa đều là sự lầm lạc. Với Truyện Kiều và Nguyễn Du cũng không ra ngoài ý tưởng ấy. Há chúng ta không từng được Nguyễn Du tiên sinh vạch nẻo chỉ đường hay sao: “Ta đọc kinh Kim Cương có hơn ngàn lần. Thâm nghĩa bên trong phần nhiều không hiểu thấu. Mãi đến khi tới dưới đài phân kinh này, mới biết rằng kinh không chữ mới là chân kinh”. (Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài – Bắc Hành Tạp Lục). Mặc dầu Đoạn Trường Tân Thanh không phải là kinh điển theo nghĩa thông thường, nhưng không một ai có thể chối từ giá trị Nghệ Thuật của nó được đóng góp với ít nhiều tư tưởng đạo Phật bên trong, cạnh những tư tưởng khác. Chúng ta không thể nghĩ bàn về nghệ thuật ở đệ nhất nghĩa, thì cũng không thể nghĩ bàn về nghệ thuật ở bình diện cao cả của nó. Bó buộc chúng ta phải định nghĩa nghệ thuật là gì, rốt ráo nghĩa Đoạn Trường Tân Thanh là gì, tức là cố tình đưa đẩy vào sự sa đọa của ngôn từ và ngụp lặn trong chốn mê muội ngàn đời. Nhưng cũng vì sự bó buộc cấp thiết ấy, nó mới giúp cho chúng ta tra hỏi liên tục từ trong sa đọa muội mê hầu có thể khai mở chân nghĩa. Đây không hẳn là sự mâu thuẫn trong cách thế lý luận khai mào cho đề tài; nó mâu thuẫn mà không mâu thuẫn vậy.

Trong viễn tượng đó, chúng ta có lẽ sẽ đồng ý với Đặng Tiến khi ông viết:

“Sáng tạo được vẻ đẹp của những kiếp đoạn trường, Nguyễn Du đã tạo một niềm tin mới cho con người, tạo ý thức của những giá trị cao cả tiềm tàng trong cuộc sống. Nghệ thuật hóa thảm kịch thân phận là khơi nguồn vui vô tận cho con người. Xét dưới khía cạnh đó, cái đẹp là vinh dự của kẻ thất bại và nghệ thuật là một chiến thắng”.[9]

Phải chăng “nguồn vui vô tận” đó chính là tâm thức giải thoát mà Kiều đã thức ngộ sau bao nỗi thăng trầm luân lạc?

Chúng ta đã đặt nhiều câu hỏi để qui hướng ý nghĩa tư tưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh như là một đòi hỏi trả lời không thể lẩn quanh được. Và câu giải đáp sẽ dựa trên chiều hướng nghệ thuật, dưới cái nhìn của thiền, dù chỉ là những kiến giải nông cạn nhất.

Trong việc triển khai ý hướng đó, tập tiểu luận này sẽ lần lượt trình bày qua ba phần chính:

Phần một: Về Nguyễn Du sẽ giới thiệu đôi nét về Tố Như và các tác phẩm chính và nguồn gốc Đoạn Trường Tân Thanh.

Phần hai: Vị trí tư tưởng của đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh.

Phần ba: Những nhận định về tư tưởng đạo Phật qua Nguyễn Du và trong Đoạn Trường Tân Thanh.

Phần Tổng Luận sẽ thẩm định giá trị của tư tưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh và mở rộng chân trời đến cuộc đời. Đồng thời thử duyệt xét lại các câu hỏi được đặt ra từ đầu: Tại sao một tác phẩm văn chương chất chứa tư tưởng được nhận thức từ đời sống bao giờ cũng có khả năng cuốn hút người đọc?

--------------------------------------

[1] Lão Tử, Đạo Đức Kinh, bản dịch của Nguyễn Duy Cần, Khai Trí XB, Sài Gòn, 1961.

[2], Lê Tôn Nghiêm, Heidegger trước sự phá sản của tư tưởng Tây phương, Sài Gòn, An Tiêm, 1969, t.62, 63 và 152.

[3] Trần Trọng Kim, Lý thuyết Phật học trong Truyện Kiều (Phần tựa Truyện Thúy Kiều do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo từ trang XXXIV đến XLIII); Tân Việt tái bản lần thứ 8, Sài Gòn, 1968.

[4] Lê Ngọc Trụ và Bửu Cần, Thư mục về Nguyễn Du. Tủ sách Viện Khảo cổ, BGDXB, Sài Gòn 1965 (139 trang).

[5] Đào Duy Anh, Khảo luận về Kim Vân Kiều, Huế, Quan Hải tùng thư, 1943, trang 215.

[6] Đào Duy Anh, Khảo luận về Kim Vân Kiều, Huế, Quan Hải tùng thư, 1943, trang 215.

[7] Nguyễn Đăng Thục, Thế giới thi ca của Nguyễn Du, Sài Gòn: Kinh Thi, 1971, trang 172-173.

[8] Xem thêm Nguyễn Văn Trung, Đặt lại vấn đề Truyện Kiều hay phê bình văn học (trong Chân dung Nguyễn Du). Sài Gòn, Nam Sơn xuất bản 1970 (từ trang 52 đến 78).

[9] Đặng Tiến, Nghệ thuật như một chiến thắng. Sài Gòn, Văn số 44, ngày 15.10.65 – trang 35.

(Đón đọc tiếp: PHẦN MỘT: VỀ NGUYỄN DU - Mục 1) 



Mùa Hoang Hạ

 



Thứ Tư, 4 tháng 8, 2021

Kiều Khúc Mùa Thu

 



Chính Quyền Biden Rút Lại Lệnh Cấm Viện Khổng Tử

 

Ảnh chụp màn hình từ video của kênh Youtube 假孔子之名In the Name of Confucius

CHÍNH QUYỀN BIDEN RÚT LẠI LỆNH CẤM VIỆN KHỔNG TỬ 
Ai Liên

Chính quyền Biden đã rút lại một báo cáo yêu cầu các trường học Hoa Kỳ có Viện Khổng Tử phải nộp các yêu cầu báo cáo liên quan, điều này đã làm dấy lên sự chỉ trích mạnh mẽ từ các nghị sĩ Đảng Cộng hòa, Epoch Times đưa tin.

Các nghị sĩ tuyên bố rằng Viện Khổng Tử là một tổ chức có quan hệ mật thiết với ĐCSTQ, với bề ngoài là một trung tâm văn hóa, nhưng vai trò của nó như là mặt trận thống nhất. Sự thâm nhập của ĐCSTQ đã thu hút sự chú ý rộng rãi của dư luận.

Cục Nhập cư, Hải quan và Thực thi pháp luật đã xác nhận với Fox News rằng quy định này yêu cầu các trường học của Mỹ phải báo cáo với chính phủ Mỹ liệu họ có mối quan hệ với Viện Khổng Tử hay không. Quy định này là một nỗ lực vào phút chót của chính quyền Trump, nhưng đã bị chính quyền Biden rút lại vào ngày 26/1. 

“Các Viện Khổng Tử là cơ quan đầu não của ĐCSTQ trong khuôn viên các trường đại học của Hoa Kỳ”, Thượng nghị sĩ tiểu bang Arkansas Tom Cotton nói về việc bãi bỏ quy định. “Chính phủ liên bang nên đóng cửa các trường cao đẳng dưới quyền của ĐCSTQ, hoặc ít nhất là yêu cầu các trường tiết lộ thỏa thuận bí mật với Viện Khổng Tử. Ngược lại, chính quyền Biden cho phép các hoạt động xâm nhập của nước ngoài tiếp tục trong bí mật”.

“Xét về tác hại gây ra bởi việc ĐCSTQ tiếp tục mở rộng ảnh hưởng tại Hoa Kỳ, quyết định rút lại quy định này của chính quyền Biden là vô cùng thất vọng và gây sốc”.Thượng nghị sĩ tiểu bang Ohio, Rob Portman cho biết trong một tuyên bố, ”Tôi kêu gọi họ xem xét lại quyết định thu hồi”.

Portman đã tham khảo báo cáo của Ủy ban điều tra thường trực năm 2019, cho biết: “Kể từ năm 2006, ĐCS Trung Quốc đã cung cấp hơn 158 triệu USD tiền tài trợ của Viện Khổng Tử cho hơn 100 trường học của Mỹ”.

Thượng nghị sĩ Marco Rubio nói thêm: “FBI đã cảnh báo ĐCSTQ sử dụng Viện Khổng Tử để xâm nhập vào các trường học của Mỹ. Nhưng bây giờ, ông Biden đã lặng lẽ rút lại quy định của chính quyền Trump yêu cầu các trường tiết lộ mối quan hệ hợp tác của họ với các cơ quan chính phủ Trung Quốc”.

Đại diện bang New York, Elise Stefanik đề xuất sửa đổi ngân sách trước Ủy ban Giáo dục và Lao động Hạ viện nhằm ngăn các trường mở Viện Khổng Tử nhận được tài trợ liên bang, nhưng đề xuất sửa đổi đã bị Đảng Dân chủ chặn lại.

Bà Stefanick nói: “Chúng ta phải ngăn chặn tiền của người đóng thuế Mỹ chảy vào các tổ chức có mối quan hệ hợp tác với bất kỳ thực thể nào do ĐCSTQ sở hữu, kiểm soát hoặc tổ chức. Chúng tôi biết rằng ĐCSTQ đang kiểm duyệt quyền tự do ngôn luận và thực hiện hành vi diệt chủng ở tỉnh Tân Cương, và nó ảnh hưởng đến cộng đồng học thuật Hoa Kỳ trước mắt chúng ta”.

Đài Tiếng nói Hoa Kỳ đưa tin rằng một người phát ngôn của Nhà Trắng cho biết: “Chính quyền Trump đã không đệ trình các quy định lên Cơ quan Đăng ký Liên bang ngay từ đầu vì Văn phòng Quản lý và Ngân sách (OMB) chưa bao giờ hoàn thành việc xem xét các dự thảo quy định dưới thời chính quyền Trump. Dự thảo này vẫn còn bị kẹt trong các cuộc thảo luận giữa các cơ quan của Cục Quản lý và Ngân sách vào ngày chuyển giao quyền lực”.

Người phát ngôn cũng cho biết vào ngày nhậm chức, Chánh văn phòng Nhà Trắng Ron Klain đã ban hành một biên bản ghi nhớ để đóng băng mọi thủ tục pháp lý, tương tự như những gì ông đã làm trong những lần chuyển giao chính phủ trước đây. Ông nói: “Việc đóng băng có nghĩa là điều khoản này tự động bị rút khỏi Văn phòng Thông tin và Các vấn đề Quản lý, và cần phải được gửi lại. Việc thu hồi áp dụng cho tất cả các điều khoản khác chưa được xem xét trong quá trình chuyển giao quyền lực”.

Theo trang web của Văn phòng Thông tin và Các vấn đề Quy định (OIRA) thuộc Cục Quản lý và Ngân sách, vào ngày 31/12 năm ngoái, cơ quan này đã nhận được một điều khoản xem xét từ chính quyền Trump có tên là “Yêu cầu đối với các trường chấp nhận chứng chỉ chương trình sinh viên và trao đổi các học giả (SEVP) tiết lộ các thỏa thuận với các Viện Khổng Tử và Phòng học Khổng Tử”. Thông tin trên trang web cho thấy quá trình xem xét quy định này đã kết thúc vào ngày 26/1 và trạng thái kết quả là “Đã rút”.

Mặc dù vậy, đảng Cộng hòa vẫn cảnh báo việc thu hồi của chính quyền Biden.

“Chính quyền Biden đã thu hồi một quy định ngăn cản ĐCSTQ gây ảnh hưởng đến các trường học của Mỹ”, Dân biểu Đảng Cộng hòa Jim Banks cho biết. “Dân biểu Stephen Nick đã phản đối và đề xuất một sửa đổi vào đêm qua để ngăn chặn động thái này. Đảng Dân chủ đã bác bỏ nó”.

Các nước phương Tây khác cũng đã đưa ra báo động đối với các Viện Khổng Tử. Theo The Times, Thụy Điển đã trở thành quốc gia châu Âu đầu tiên bãi bỏ tất cả các Viện Khổng Tử ở nước này vào năm ngoái. Điều này đang diễn ra khi mối quan hệ giữa hai nước ngày càng xấu đi và ĐCSTQ tiếp tục giành thêm ảnh hưởng.

Lãnh đạo đảng Cộng hòa tại Hạ viện và Hạ nghị sĩ bang California Kevin McCarthy cho biết trên Twitter: “ĐCS Trung Quốc đã để cho đại dịch lây lan toàn cầu trong một năm. Chính quyền Biden không bắt họ phải chịu trách nhiệm về việc che đậy sự thật, nhưng thay vào đó đã thưởng cho Trung Quốc (ĐCSTQ) và cho phép tuyên truyền của họ thâm nhập vào khuôn viên trường đại học của chúng tôi”.

Dân biểu Rick Crawford, Đảng Cộng hòa thuộc tiểu bang Arkansas, đã viết trên Twitter: “Tại sao chính quyền Biden lại cho phép một tổ chức liên quan trực tiếp đến ĐCSTQ hoạt động trong các cơ sở giáo dục ở Hoa Kỳ? ĐCSTQ chưa bao giờ là bạn của Hoa Kỳ,và việc nhắm mắt làm ngơ sẽ chỉ gây ra nhiều thiệt hại hơn”.

Những người theo Đảng Cộng hòa từ lâu đã phản đối sự ra đời của các Viện Khổng Tử.

“Các Viện Khổng Tử chỉ là công cụ để chính quyền Trung Quốc tuyên truyền và tác động đến giới trẻ của chúng ta. Nó không có chỗ đứng trong các trường học ở tiểu bang Utah hay đất nước chúng tôi”, Thượng nghị sĩ tiểu bang Utah Mitt Romney phản hồi trước việc đóng cửa Viện Khổng Tử ở tiểu bang của ông vào tuần trước, “Tôi khen ngợi Cơ quan Lập pháp Utah vì những nỗ lực của họ trong việc loại bỏ các tổ chức ĐCSTQ này khỏi các trường đại học ở tiểu bang chúng tôi”.

Trong bài phát biểu về chính sách đối ngoại đầu tiên của mình sau khi nhậm chức vào tuần trước, ông Biden gọi Trung Quốc (ĐCSTQ) là “đối thủ cạnh tranh gay gắt nhất của Mỹ”. Tuy nhiên, trên nhiều cấp độ chính sách cụ thể, bao gồm cả lệnh cấm Viện Khổng Tử, lệnh cấm WeChat và lệnh cấm Huawei, chính quyền Biden đã không đưa ra tuyên bố rõ ràng.

Ai Liên - DKN.TV