Thứ Hai, 3 tháng 11, 2025

Nỗi Lòng Chưa Tỏ

 

Hình minh họa

NỖI LÒNG CHƯA TỎ 
Lê Đức Luận 

Bao nhiêu năm qua, ông Lân vẫn giữ lời nguyền: “sống để bụng, chết mang theo” về một chuyện tình. Nhưng bước sang tuổi tám mươi lòng ông day dứt… nếu không nói ra - một mai qua đời - sẽ không có ai biết được nỗi lòng tha thiết của ông về một mối tình thật đẹp nhưng đã kết thúc trong thương cảm - khiến hai kẻ yêu nhau cùng im lặng và dấu kín trong tim một nỗi niềm.

Thế là, ông không còn giữ được lời nguyền - ông viết! Ông viết ra nỗi niềm chưa tỏ cùng ai như một cách để trải lòng…

Từ lâu, ông nghe nói người ấy đi tu và đã khấn trọn đời - nguyện tận hiến tuổi thanh xuân và cuộc sống của mình để phụng sự Chúa. Bây giờ, người nữ tu ấy đã vào tuổi bảy mươi lăm, đang tu dưỡng trong một dòng tu nào đó ở Hoa Kỳ. Ông không có ý tìm gặp, nhưng mong tình cờ người nữ tu ấy đọc được truyện ngắn này mà thấy lòng xao xuyến, rồi san sẻ chút lòng kính yêu Thiên Chúa cho mối tình đầu thơ mộng… Thế là ông mãn nguyện.

Ông hy vọng Chúa nhân từ thấu lòng nhân thế mà xót thương và tha thứ cho người nữ tu đã khấn trọn đời dâng hiến, nhưng trong giây phút yếu lòng đã để tình cảm lứa đôi lay động tâm hồn. Và biết đâu một mai Chúa sẽ cho hai kẻ yêu nhau với mối tình đầu cao thượng được gặp lại ở chốn Thiên đàng(?).

Chiều nay, ngồi trên ghế đá công viên nơi đất khách, ông Lân đang thả hồn theo những chiếc lá vàng chao trong gió…Bỗng xuất hiện đôi thiếu niên nam nữ âu yếm nắm tay nhau, thong thả dạo bước dưới bóng mát của những cây phong cổ thụ nơi góc vắng công viên, gợi cho ông nhớ lại những lần dạo chơi cùng cô gái bắc kỳ di cư nho nhỏ, xinh xinh dưới những hàng keo già nơi xóm đạo…

Giờ đây, nỗi nhớ không thể chạm đến và niềm thương không thể gọi thành tên - lòng ông xao xuyến nhớ về…

Nắng chiều buông xuống - chỉ còn đậu lại trên đọt những cây phong già ánh vàng le lói. Ông vẫn ngồi bất động trên ghế đá công viên nhìn lá vàng rơi.

Bỗng ký ức trỗi dậy! Rồi bao kỷ niệm hiện ra trong trí nhớ như đoạn phim quay chậm: từ thuở thiếu thời cho đến lúc trưởng thành.

Ông Lân được sinh ra và lớn lên ở một làng quê cách Thị xã Tuy Hoà chừng bốn cây số. Trong chín năm kháng chiến (1945-1954) quê hương ông nằm trong vùng Việt Minh kiểm soát. Ông nhớ dưới thời Việt Minh, người lớn trong làng gọi đám nhóc tì như ông là nhi đồng. Nhi đồng thời ấy có những thú vui là đêm đêm đốt lửa trại, đánh trống ếch: bùm… bum… rồi đốt đuốc đi quanh làng hô khẩu hiệu vang trời. Đến Tết Trung Thu, Hội Phụ Nữ (là các bà mẹ) nấu nồi chè đậu đen to tướng, phát cho mỗi đứa một chén, thêm vài cái bánh ít lá gai - vừa ăn, vừa hát đồng ca bài “Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh”. Thế là vui!

Còn chuyện học hành chữ nghĩa thời ấy thì “được chăng hay chớ”- việc học hành chỉ để thoát qua cái nạn mù chữ. Hầu hết già trẻ gái trai trong làng, ban đêm đều học lớp “Bình dân Học vụ”. Đám thiếu niên, nhi đồng được đến trường, nhưng thường học qua bậc Tiểu học rồi thôi và ở nhà giúp cha mẹ trong công việc đồng áng. Rất ít đứa học lên cao (vì học lên cao phải đi xa nhà - rất tốn kém). Trường học thời đó, có thể là đình làng, hay căn nhà tranh cất đơn sơ núp dưới những tàn cây cổ thụ để máy bay Pháp khó phát hiện.

Đặc biệt chung quanh trường có những hầm tròn, sâu gần một mét. Khi nghe tiếng máy từ xa, đứa học trò ngồi gác bên ngoài đánh kẻng báo động… học trò vội vã chạy ra khỏi lớp, nhảy xuống hầm tròn. Mỗi lần nhắc đến chuyện này, ông Lân vẫn còn nổi da gà khi nhớ lại: dưới các hầm tròn thường có những con rắn trun, rắn hổ mang nằm dưới đó.

Có một điều khó quên của tuổi thơ đi học là chuyện vẽ chân dung Bác Hồ.

Đứa nào cũng phải vẽ chân dung Bác và cố gắng vẽ sao cho giống bằng bút chì đen trên “giấy nam trung” thô nhám. Thời đó học trò thiếu thốn và khó khăn mọi bề - làm gì có hộp màu như sau này. Đứa nào có cây bút chì hai màu - đầu xanh, đầu đỏ - được coi là bảnh để vẽ chân dung Bác!

Đến năm 1954, đất nước bị chia đôi - các tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) không còn nằm dưới sự kiểm soát của Việt Minh. Chính quyền Quốc Gia được thành lập. Từ đây cuộc sống của người dân trong vùng thay đổi và phát triển nhanh chóng đến không ngờ về mọi mặt.

Từ thành thị đến thôn quê bừng lên sức sống. Lúc này ông Lân vào tuổi mười một, mười hai - tâm hồn trong sáng ngây thơ như những trang giấy trắng được ghi vào những điều mới lạ và các mâu thuẫn giữa hai chế độ, khiến tuổi thơ của ông lắm lúc hoang mang…

Mới ngày nào, đám thiếu niên, nhi đồng cố vẽ chân dung Bác Hồ sao cho thật giống. Bây giờ, không còn vẽ chân dung Bác Hồ, mà vẽ chân dung Chí sĩ Ngô Đình Diệm sao cho thật đẹp, rồi treo lên chỗ trang trọng nhất trong nhà.

Mới ngày nào nhảy múa hát bài: “Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh”, bây giờ học sinh hát bài: “Nhớ ơn Ngô Tổng Thống” vào buổi chào cờ mỗi sáng Thứ Hai.

Ôi! Thật là rối rắm cho tuổi thơ… “Cái yêu” của Bác Hồ và “cái ơn” của Ngô Tổng Thống đối với đám thiếu niên, nhi đồng thật khó lường - “cái yêu” của Bác Hồ được nghe qua lời nói; còn “cái ơn” của Ngô Tổng Thống thì được thấy qua cơm áo, sách vở học hành đầy đủ. Mỗi thời, thầy giáo giảng giải một cách làm tuổi thơ cứ mãi phân vân: “cái yêu” với “cái ơn”- không biết cái nào nặng mối ân tình hơn cái nào?

Nhưng có điều thực tế là từ khi chính quyền Quốc Gia được thành lập - quê hương ông có sự thay đổi và bừng lên sức sống: Trường Tiểu học được xây cất khang trang khắp các thôn làng. Ở Thị xã Tuy Hoà có trường Trung học Công lập Nguyễn Huệ và hai trường Trung học Tư thục: Bồ Đề của Phật giáo; Đặng Đức Tuấn của Công giáo.

Nếu trước đây, đa số thanh thiếu niên chỉ mong học xong bậc tiểu học là đi học nghề hay làm công việc đồng áng, bây giờ có nhiều cơ hội để học cao hơn. Và rồi như một phong trào - nhiều gia đình nông dân nghèo vẫn cố gắng cho con tiếp tục đến trường - việc học hành được xem như con đường tương lai tươi sáng cho tuổi trẻ.

Học trò lấy xong bằng Tiểu học, có thể nạp đơn dự kỳ thi tuyển vào lớp Đệ Thất trường công (đi học không phải đóng tiền học phí); cô, cậu nào học dở - không đậu vào trường công thì cha mẹ cũng cố gắng cho đi học trường tư.

Bấy giờ hình ảnh các nhân vật trong tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn: thư ký, thầy giáo, bác sĩ, kỹ sư… tiêu biểu cho hướng tiến thân của tuổi trẻ và cũng là ước mơ của các bậc phụ huynh - mong con thoát cảnh chân lấm tay bùn…

Lúc ấy, ông Lân thuộc loại tối dạ - học dốt! Không chen nổi vào trường công.

Nhưng được cha mẹ cho đi học trường tư thục Đặng Đức Tuấn (trường Đạo) do các Sư huynh (Frère) Dòng Thánh Giuse ở Nha Trang ra Tuy Hòa giảng dạy.

Không hiểu do đầu óc đã qua cái thời u tối, hay do cách dạy học của các Sư huynh mà ông Lân sáng dạ ra - học đâu nhớ đó - giỏi giang, được các Sư huynh thương mến. Sau bốn năm học, ông Lân đậu bằng Trung học Đệ Nhất Cấp (thời Pháp thuộc gọi là bằng Diplôme hay Thành Chung) hạng Bình Thứ làm các Sư huynh vui lòng, cha mẹ ông sung sướng và có chút hãnh diện với bà con.

Cái số của ông Lân như được quới nhân phù trợ, đã đem đến cho ông những may mắn bất ngờ. Một hôm, thầy Hiệu trưởng Trường Đặng Đức Tuấn, Sư huynh Francois nghe đứa bạn của Lân kể hoàn cảnh khó khăn của gia đình Lân. Lân sẽ nghỉ học, kiếm việc làm nuôi cha mẹ già. Sư huynh Francois cảm thấy chạnh lòng cho gọi Lân vào văn phòng, Thầy hỏi: “Năm tới con còn muốn đi học hay kiếm việc làm?”- “Dạ, thưa thầy con rất muốn học tiếp, nhưng cha mẹ con không có đủ tiền cho con đi học nữa.”

Một thoáng xúc động, Sư huynh Francois ân cần bảo: “Nếu con muốn học tiếp thầy sẽ giúp con. Lớp Đệ Tam, chương trình học tương đối nhẹ - con có thể vừa đi làm kiếm tiền giúp cha mẹ vừa học được bằng cách: con làm thư ký cho trường có tiền lương tháng. Hằng ngày con đến văn phòng, thầy chỉ việc cho con làm; đến giờ toán, lý hóa con có thể vào lớp Đệ Tam học dự thính, còn các môn khác con tự học ở nhà. Như thế khi lên lớp Đệ Nhị con không bị hụt hẫng.”

Được Sư huynh Hiệu trưởng gợi ý giúp đỡ, Lân cảm động và vui mừng quá sức, không nói nên lời, chỉ ấp úng: “Dạ, con cảm ơn Thầy, con sẽ nghe theo lời Thầy chỉ dạy bảo.”

Thế là sau ba tháng hè, Lân trở lại trường - vừa làm thư ký vừa học dự thính lớp Đệ Tam. Lân đã gắn bó với ngôi trường Đặng Đức Tuấn thân thương cùng các Thầy Dòng Thánh Giuse cho đến ngày thi đỗ bằng Tú Tài phần nhất mới rời trường Đặng Đức Tuấn, sang trường công lập Nguyễn Huệ học lớp Đệ Nhất (Vì trường ĐĐT lúc ấy chưa mở lớp Đệ Nhất - ngang lớp 12 bây giờ).

Dù không còn gặp nhau hằng ngày, nhưng các Sư huynh vẫn quý mến đứa học trò hiền lành, khiêm tốn và thông minh, nên các Sư huynh muốn giúp đỡ Lân có điều kiện tài chánh để tiếp tục học hành.

Khi các Sư huynh mở lớp dạy luyện thi Trung học Đệ Nhất Cấp, cho Lân mấy giờ dạy toán. Có ngờ đâu mấy giờ dạy toán trong mùa hè năm đó đã đưa đẩy Lân đi vào con đường tình ái đau thương và hệ lụy của nó là một đời day dứt…

Lần đầu tiên đứng trên bục giảng và được nghe gọi bằng thầy - một niềm vui xen lẫn chút hãnh diện… nhưng Lân cứ ngượng với cái tên gọi mới mẻ này, vì cảm thấy mình còn quá trẻ, nhất là với một cô học trò lớn tuổi trong lớp, cứ nhìn Lân có vẻ như ghẹo… như đùa…

Một hôm, giải và chứng minh xong một bài toán khó, Lân ra bài tập cho cả lớp làm tại chỗ. Đám học trò nhỏ cặm cụi làm bài, chỉ riêng cô học trò bắc kỳ lớn tuổi và xinh nhất lớp, ngồi cắn bút, ngắm thầy Lân… Lân bắt gặp ánh mắt ấy và bốn mắt nhìn nhau lúng túng … Cô học trò cúi xuống, mỉm cười, hai má ửng hồng…Thầy giáo Lân có vẻ mất tự nhiên, và cảm thấy con tim như đang đập sai nhịp... Học trò cả lớp chăm chú làm bài, không ai để ý, nhưng cô học trò bắc kỳ tinh ý thấy được vẻ lúng túng của thầy Lân.

Sau khi tan lớp, trên đường trở về nhà trọ, Lân cảm thấy cảnh vật chung quanh như đang reo vui với chàng và hình như trong lòng mình cũng đang rộn rã niềm vui khác lạ…

Nhưng mấy buổi học sau đó, cô học trò lớn tuổi không tới lớp. Thầy Lân ngẩn ngơ và phân vân tự hỏi: “Có phải do mình dạy không hay, nên học trò bỏ học?” Thầy Lân cảm thấy buồn!

Rồi một buổi chiều, Lân ngạc nhiên thấy cô học trò bắc kỳ xinh xinh đó, mặc áo dài trắng nữ sinh, xuất hiện trước cửa nhà trọ của mình với vẻ rụt rè…

Lân ngạc nhiên và hơi bối rối, nhưng mừng rỡ ra mặt! Lân cố làm ra vẻ tự nhiên, nhưng không dấu được cái lúng túng, Lân hỏi:

- Sao mấy hôm nay P. không đến lớp? Mà sao P. biết tôi ở nơi đây mà đến?

P. lí nhí: “Em nhớ! Em đi tìm…”

Cảm động! Im lặng! Lân đưa P. vào nhà…

Ngồi đối diện nhau nơi chiếc bàn học nhỏ, trong khoảnh khắc, ánh mắt cả hai tự nhiên tìm đến với nhau - lặng lẽ, bất ngờ! Rồi vội lảng đi trong cái ngượng ngập hồn nhiên.

Khoảng cách giữa hai người là một mặt bàn nhỏ, nhưng hình như chất đầy sự rung động của tình yêu và hòa cùng hơi thở ấm áp của cả hai. Tự nhiên Lân cầm lấy tay P. nói vu vơ:

- Em không đi học, lớp học buồn hiu à…

P. nhìn Lân rưng rưng như muốn khóc:

- Em muốn được đi học lắm, nhưng đến lớp em ngượng vì lớn ầm mà ngồi học chung với đám con nít…

- Làm như em hết là con nít? Lân bảo.

P. cúi xuống, bẽn lẽn bóp nhẹ tay Lân:

- Còn con nít nhưng đã biết nhớ… biết thương…và biết xấu hổ …

Lân im lặng như để cái khoảnh khắc ngọt ngào ấy ngấm vào tim.

P. nói tiếp: - Hồi di cư, Thầy Mẹ em gửi bốn đứa con cho Cha xứ, theo họ Đạo vào Nam và xin định cư ở Bảo Lộc. Hồi nhỏ, em học Tiểu học ở trường các Ma Soeur, vào Bảo Lộc trường Trung học rất xa, núi đồi trùng điệp, em không thể đến trường phải ở nhà với bà chị cả suốt hai năm.

P. đổi lại thế ngồi, rồi hỏi:

- Anh có tin vào lòng lành của Chúa không?

- Anh tin… Anh tin cuộc đời con người và muôn loài trên vũ trụ phải có một đấng quyền năng và nhân từ chăm sóc.

P. cảm động, bóp tay Lân, nhìn Lân khẽ nói:

- Ba hôm rồi, em không đến lớp, nhưng chờ sau khi tan trường, em đã dõi bước theo anh trên đường về nhà trọ. Ba buổi chiều day dứt…

Chiều nay Chúa đã thêm sức khiến em bạo dạn…

Lân đưa tay vuốt tóc P. và thì thầm: “Vắng em, anh thấy lớp học buồn hiu - anh không thấy hứng thú giảng bài. Anh nhớ…

P. bóp tay Lân, khẽ hỏi:

- Vậy, mỗi chiều Thứ Bảy, em đến đây anh dạy toán cho em, em không đến lớp nữa - anh chịu không?

Lân nói như reo:

- Đồng ý và ước gì mỗi tuần có hai buổi chiều Thứ Bảy.

Kể từ buổi chiều Thứ Bảy hôm đó, hai tâm hồn non trẻ đã hòa nhịp và trao cho nhau mối tình đầu trong trẻo, hồn nhiên…

Qua ba tháng hè thần tiên đó, Lân vào học Đệ Nhất trường Nguyễn Huệ, P. vào học lớp Đệ Tứ trường các Bà Soeur và vẫn gặp nhau mỗi chiều Thứ Bảy.

Vậy mà Lân vẫn thấy chưa đủ - nỗi nhớ cứ thôi thúc, đôi ba ngày Lân lại đạp xe lên xóm đạo tìm P.

Trong đời ai cũng có một lần bắt gặp tình yêu - khởi đầu là sự rung động, nhớ nhung, mơ mộng … rồi tiếp nối tình yêu là lời cam kết và trách nhiệm hôn nhân - tình yêu như hoa, hôn nhân như quả - quả ngọt hay chua nào ai dám quyết… nhưng thường tình, con người ai cũng trải qua - có kẻ hạnh phúc, có người khổ đau…

Đối với Lân và P. - cả hai còn quá trẻ, yêu nhau hồn nhiên như yêu nắng sớm ban mai trong trẻo, không thấy sự vướng bận nào. Nhưng các anh chị của P. lại lo lắng cho đứa em bé bỏng yêu người ngoại đạo…

Hai anh trai và bà chị cả của P. đều là con chiên ngoan đạo. Khi mới di cư vào Nam, bốn anh em ở cùng họ Đạo, định cư ở Bảo Lộc. Sau đó người anh thứ ba xin vào chủng viện - đi tu, người anh thứ hai xin vào dạy Anh văn ở trường Đặng Đức Tuấn, P. ở lại với bà chị cả ở Bảo Lộc. Khi người anh thứ hai ổn định, P. mới đến Tuy Hòa ở với người anh thứ hai để tiếp tục việc học hành. Rồi cơ duyên dun dủi gặp “thầy Lân dạy toán” đã dệt lên mối tình đầu trong trẻo, hồn nhiên như trong tiểu thuyết.

Một lần, người anh thứ ba của P. đang tu năm thứ tư ở Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt, về Tuy Hòa thăm P. Lân được gọi đến, coi như ra mắt chính thức với các anh chị của P. Lân ngồi nghe ông anh giảng đạo như một con chiên ngoan của Chúa, và hứa sau khi thi đậu Tú Tài hai sẽ thưa với cha mẹ lo xúc tiến việc hôn nhân theo các “bí tích hôn phối” của đạo Công giáo.

Tưởng rằng mọi sự rồi sẽ diễn tiến như mong ước, nhưng nào ngờ mối tình trong trẻo, hồn nhiên ấy đã bị cuốn trôi bởi những lời trần trụi.

Buổi chiều sau Tết âm lịch năm đó, Lân ngạc nhiên thấy thằng S. - bạn học cùng lớp nhưng không thân lắm đến thăm.

Lân mời S. vào nhà, thằng S. có vẻ không được tự nhiên, vừa ngồi vào bàn, hắn lắp bắp:

-Tôi đến để nói chuyện với anh về P.

Lân có vẻ hoảng hốt, tưởng P. gặp tai nạn, nên hỏi gấp:

- Có chuyện gì xảy ra với P. - có gặp tai nạn gì không?

Thằng S. bình tĩnh, nhìn Lân, hạ giọng:

-Tôi biết mối tình thắm thiết của anh với P. nên tôi đến để xin lỗi anh. Vì quá cuồng si, tôi đã xúc phạm P. và P. không còn…

Nói đến đây, thằng S. không thêm lời nào, còn Lân như á khẩu! Hai thằng con trai im lặng nhìn nhau.

Một lát sau, S. lên tiếng:

- Tôi biết Lân yêu P. với hết tấm lòng - hồn nhiên và cao thượng, nhưng là “tình yêu học trò”; còn tôi yêu P. là “một mối tình si” - tôi yêu P. từ khi nàng ở tuổi mười ba. Anh là người ngoại đạo, biết đâu sẽ có sự trắc trở trong hôn phối, sẽ làm dở dang đời P. Nhưng với tôi, tôi xin hứa sẽ đem đến hạnh phúc cho P. suốt đời.

Ngừng một chút, S tiếp:

-Tuần tới. tôi sẽ trình diện vào học khóa…ở trường Bộ Binh Thủ Đức. Sau khi mãn khóa, tôi và P. sẽ làm đám cưới.

Nghe những lời S. nói chắc nịch, Lân cảm thấy như bị xát muối vào tim và chỉ nói được một câu giã từ ngắn ngủi:

- Được rồi, S. về đi và nhớ giữ lấy lời đã hứa.

S. bắt tay Lân:

-Tôi sẽ giữ như một lời thề!

Mấy mươi năm trôi qua, cuộc đời ông Lân có biết bao thăng trầm, thay đổi - tưởng chừng như đã chôn vùi theo vận nước. Nhưng “Trời còn để có hôm nay/ Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời ”* Ông sẽ được đi định cư ở Hoa Kỳ theo chương trình HO. Vì thế ông muốn về thăm quê hương một chuyến, nhân đó sẽ ghé qua xóm Đạo để tìm lại một vài kỷ niệm xa xưa.

Nhưng Xóm Đạo bây giờ tiêu điều, nhiều nhà bỏ trống, hoang phế… hỏi ra mới biết: đa số đã bị đưa đi vùng kinh tế mới. Nhà thờ Đạo cũng thưa người vào chiều Thứ Bảy. Ông Lân thơ thẩn dưới hàng keo già, bên hông nhà thờ để tìm lại chút hương xưa thì tình cờ gặp S.

Một xúc động đến nghẹn lời! S. ốm nhom, đen đúa, đang ngồi trên xe lăn, hai tay cố đẩy hai bánh xe lăn đi vào sân nhà thờ. Ông Lân chạy đến, nắm càng xe đẩy nhẹ, rồi lên tiếng:

- S. ơi! Lân đây! S. bị thế nào mà phải ngồi xe lăn?

S. ngước lên, đôi mắt mờ đục, nhìn Lân.

- Ố! Anh Lân! Anh vẫn còn sống? Cách nay mấy năm tôi hỏi thằng Tư, nó nói anh còn ở tù ngoài Bắc. Anh được ra tù lúc nào?

- Tôi được thả năm ngoái.

Ông Lân sốt ruột hỏi lại:

- S. bị thương khi nào mà phải ngồi xe lăn?

- Tôi bị thương trước ngày ngừng bắn 30-4 gần một tháng. Chuyện dài đầy bi thảm, tôi muốn chết cho xong đời, nhưng Chúa bắt tôi phải sống. Thôi bỏ qua chuyện đó đi, chúng ta nói chuyện về cuộc sống hiện tại thôi.

S. nắm tay ông Lân, nói với giọng rất chân thành:

- Tôi rất mong được gặp lại anh, để tâm sự nhiều điều. May mắn, hôm nay không hẹn mà được gặp nhau. Chúng ta đi vào bên hiên nhà thờ nói chuyện mát hơn.

Ông Lân đẩy xe cho S. đến bên hiên nhà thờ, rồi đỡ S. ra khỏi xe lăn, ngồi lên chiếc ghế đá. S. mở lời:

- Tôi có lỗi với anh và P. Anh tha thứ cho tôi - tha thứ cái tuổi trẻ ngông cuồng đã khiến tôi xúc phạm P. và đã làm cho mối tình tươi đẹp của anh và P. tan vỡ. Tôi ân hận và ôm mãi trong lòng một mối tình si.

Chưa hiểu hết ý của S. , ông Lân hỏi lại:

- S. nói gì tôi chưa hiểu hết. Lúc trước S. đến gặp tôi hứa rằng khi ra trường Thủ Đức, sẽ làm đám cưới với P. kia mà.

- Ước mơ là thế, nhưng mộng không thành. Khi tôi ra trường Thủ Đức, xin cưới P. các anh chị của P. đều đồng ý, nhưng P. phản đối kịch liệt. Đến khi người anh thứ hai của P. vào trường Bộ Binh Thủ Đức theo lệnh động viên, P. xin vào học nội trú ở trường các bà Soeur và từ chối gặp mặt tôi.

Tôi ôm “mối hận tình” ra đơn vị. Và từ đó tôi liều thân, xông pha chiến trận.

Anh biết không - chỉ trong vòng bốn năm tôi thăng cấp đặt cách ở mặt trận hai lần. Nhưng rồi đời tôi khốn nạn quá anh Lân ạ. Trước ngày ngừng bắn một tháng tôi bị vướng mìn, bị cưa cả hai chân.

S. cúi xuống, như không muốn tôi thấy những giọt nước mắt đang ứa ra, nhưng không dấu được sự xúc động qua lời nói:

-Trong những ngày trước 30-4, thành phố Tuy Hoà hỗn loạn - mạnh ai nấy chạy tìm cách thoát thân, tôi đành thúc thủ. Nghe mẹ tôi kể: bên trường mấy Bà Soeur cũng di tản vào Cam Ranh. Bà Soeur bề trên nhận P. làm con nuôi và dẫn P. theo. Từ đó tôi không được tin tức gì về P.

- Mới đây, có người trong xóm Đạo du lịch Hoa Kỳ có đến thăm P. và kể lại:

Khi chạy vào Cam Ranh, một số các Bà Soeur được cho di tản sang Hoa Kỳ cùng với một số con lai Mỹ, trong đó có P. Sau này P. vào dòng tu ở Missouri và đã khấn trọn đời.

Ông Lân với giọng nghẹn ngào, nói với S.

- Tôi cũng đã nghe người ta nói như vậy.

Nắng chiều đã dịu, hai người đàn ông ngồi bên nhau như quên hết cái hiện tại bi thảm của cuộc đời mà để tâm hồn hướng về một người đàn bà tên P. Cả hai hình như đã quên đi hình ảnh của cô học trò xinh đẹp mà đang nghĩ về một bà Soeur thánh thiện.

Không bảo nhau mà cả hai đều chắp tay, cúi đầu cầu nguyện!

Họ im lặng và hình như đang hồi tưởng đến những năm tháng nghiệt ngã của chiến tranh và cái đau thương của dân tộc - Kề từ tháng 12-1960, người dân Miền Nam không còn được sống trong cảnh thanh bình - máu lửa chiến tranh đã bắt đầu ló dạng. Những mơ mộng trong tình yêu, những hy vọng trong sự nghiệp của tuổi trẻ đã vỡ vụn theo sự tàn khốc của cuộc chiến tranh leo thang “Giải Phóng Miền Nam”. Ông Lân không thoát khỏi cái vòng xoáy của cuộc chiến tranh nghiệt ngã ấy - ông gia nhập Quân đội Việt Nam Cộng Hòa và lao vào cuộc chiến với bao mất mát đau thương. Chuyện tình học trò coi như tiếng thở dài trong bản tình ca ai oán, có thấm vào đâu so với sự tử sinh nơi chiến địa.

Nhưng lạ thay cho cái tình đời! Khi sự vui buồn đến với con người - bao nhiêu giày xéo đau thương hay hân hoan, hạnh phúc đều nén vào ký ức. Khi ký ức có dịp “trỗi dậy” thì cái tình yêu “trồi lên” trước nhất - khiến tâm hồn con người xao xuyến.

Hiện tại hai người đàn ông trên đây đang ở trong thế cùng, lực kiệt… nhưng không quên được người yêu xưa - bây giờ là một Bà Soeur.

Thế mới biết “mối tình đầu” bao giờ cũng khắc vào tim vết sẹo khó phai mờ.

LÊ ĐỨC LUẬN
(Tháng 9-2025)
*Kiều -ND.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét