Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2021

Nước Mỹ Chết Bởi Việt Nam

 


NƯỚC MỸ CHẾT BỞI VIỆT NAM
Bằng Phong Đặng Văn Âu

Hoa Kỳ và Việt Nam có mối liên hệ nhân quả. Tiến sĩ Peter Navarro viết cuốn sách “Death By China” (Chết Bởi Trung Cộng) chỉ là hậu quả. Nguyên nhân cái chết của nước Mỹ là từ Việt Nam. (Death By Vietnam). Tôi không nói vu vơ, xin dẫn chứng bằng sự kiện.

Sau Đệ Nhị Thế Chiến, Hoa Kỳ có kế hoạch Marshall giúp các quốc gia Âu Châu Tự Do phục hưng kinh tế để đủ sức mạnh chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Năm 1954, sau khi Thực dân Pháp thất trận Điện Biên Phủ, nước Việt Nam bị chia đôi tại vĩ tuyến 17. Hoa Kỳ lại sử dụng kế hoạch Marshall để giúp Miền Nam như đã giúp Âu Châu nhằm chống lại sự xâm lăng của cộng sản từ Miền Bắc.

Trên thế giới, có ba Quốc gia bị chia đôi giữa Tự Do và Cộng sản. Đó là Đức quốc, Triều Tiên và Việt Nam. Cuối cùng, Đức quốc thống nhất, nền dân chủ được bảo toàn, vì chính quyền Tây Đức đã có nền dân chủ vững mạnh, trình độ dân trí cao, nên Đông Đức không thể xâm lăng Tây Đức. Sau khi thống nhất, không có người dân nào ở Đông Đức phải bỏ nhà cửa, tài sản để sang các nước xã hội chủ nghĩa để xin tị nạn. Ngày 25 tháng 6 năm 1950, Bắc Triều Tiên, với sự tham gia của Trung Cộng, xua quân xâm lăng Nam Triều Tiên. Thời bấy giờ nước Mỹ có Tướng Douglas MacArthur – một vị Tướng 5 sao, người từng đặt bút ký nhận sự đầu hàng của Nhật vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 – rất có uy tín lớn đối với Tổng thống Harry Truman, được toàn quyền quyết định chiến trường. Ông đổ bộ quân Mỹ lên Bắc Triều Tiên để vừa triệt đường tiếp tế của địch, vừa đẩy lui chí nguyện quân Trung Cộng về lục địa và chiến tranh chấm dứt năm 1953 cho tới ngày nay. Từ đó, Nam Triều Tiên mang tên Republic Of Korea (Đại Hàn), thiết lập nền dân chủ và trở thành một Đồng Minh của Hoa Kỳ ở Đông Á.

Tại sao Hoa Kỳ thất bại khi nỗ lực giúp Việt Nam thoát khỏi cuộc xâm lăng của cộng sản? Hoa Kỳ thất bại là vì giúp một đất nước mà người dân đã bị quỷ ám. Chúa tể của loài quỷ đó là Karl Marx, Lenin đứng ra thành lập cái Đạo Cộng sản! Mao Trạch Đông vốn biết các đời vua Tàu đã xâm lăng Việt Nam, đã đày ải nòi giống Việt Nam làm nô lê, đã dùng mọi cách để làm tuyệt chủng dân Việt Nam cả ngàn năm, nhưng thất bại, vì nòi giống Việt Nam anh hùng, nhất định sống chết với lời nguyền “Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư”! Mao Trạch Đông đổi chiến lược bằng cách dùng một tên Tàu (hoặc một bầy Việt Nam mà não bộ đã bị nhuộm đỏ) sang Việt Nam để “hoằng dương” đạo cộng sản, thì mới tiêu diệt hoàn toàn chủng tộc Việt.

Giả thiết sự tiết lộ của báo Tàu Cộng rằng: Hồ Chí Minh là Thiếu tá Hồ Quang thuộc Đệ Bát Lộ Quân là thất thiệt (fake news). Hãy cho rằng Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Cung, con của ông Nguyễn Sinh Sắc, ở Nghệ An, chưa chết trong nhà tù ở Hồng Kông, về nước lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp giành độc lập là đúng như sự tuyên truyền của đảng cộng sản đi! Nhưng bây giờ hãy xét xem những việc Hồ Chí Minh làm là vì dân, vì nước hay vì Đạo Cộng sản để thực hiện chiến lược của Mao Trạch Đông nhằm tiêu diệt nòi giống Việt Nam.

Hồ Chí Minh đã hành động như thế nào?


1_ Để có sức mạnh, Hồ Chí Minh tung khẩu hiệu: “Đoàn kết! Đoàn Kết! Đại Đoàn Kết! Thành Công! Thành Công! Đại Thành Công!” Nhưng Hồ Chí Minh bí mật ra lệnh đảng viên thủ tiêu các nhà ái quốc như: Trương Tử Anh (lãnh tụ Đại Việt), Lý Đông A (lãnh tụ Duy Dân), Huỳnh Phú Sổ (Giáo chủ Hòa Hảo), Khái Hưng Trần Khánh Giư (lãnh tụ Việt Quốc) ...

2_ Hồ Chí Minh lấy bà Tăng Tuyết Minh (người Tàu) rồi bỏ đi làm “cách mạng”. Lấy bà Nông thị Xuân, chơi cho chán chê, rồi đẩy cho Trần Quốc Hoàn hưởng xái nhì. Có con là Nguyễn Tất Trung, nhưng giao cho Vũ Kỳ nuôi nấng.

3_ Chịu ơn bà Cát Hanh Long Nguyễn thị Năm, tôn vinh bà là Mẹ Chiến sĩ, rồi viết báo dưới bút hiệu CB để gieo tiếng ác cho bà, trước khi đem bà ra đấu tố. Hồ Chí Minh cùng Trường Chinh Đặng Xuân Khu bình thản ngồi chứng kiến cảnh đấu tố bà Nguyễn thị Năm!


4_ Hồ Chí Minh sai Thủ tướng Phạm văn Đồng viết công hàm gửi cho Quốc Vụ Viện Trung Cộng xác nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của Tàu.

Kể sơ vài đặc tính của Hồ như trên là đủ thấy hắn là con người vong ân bạc nghĩa với kẻ gia ân cho mình. Hắn là người chồng bất nghĩa, người cha bất nhân, phản Tổ Quốc và phạm vô số tội tày trời. Thế mà Hồ lại được nhiều người sùng bái, tôn thờ thì có phải dân mình bị quỷ ám?

Đây là bằng chứng Hồ Chí Minh chủ tâm tiêu diệt nòi giống Việt. Con người được Trời ban cho hai khả năng để phân biệt với loài vật. Đó là trí tuệ và ngôn ngữ. Hồ coi trí thức không bằng cục phân và dùng nhục hình để cho trí thức không còn phẩm giá. Bất kể ai, dù bày tỏ một cách ôn hòa, không đồng ý với chủ nghĩa cộng sản, đều bị kết tội phản động, đều bị giết không thương tiếc. Tội ác ghê gớm nhất của Hồ Chí Minh là thiết lập một bộ máy cai trị gồm những con quỷ không tim không óc. Hồ chí Minh là cha đẻ Tổng Bí thư Lê Duẩn, biết mình đánh Pháp, đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, cho Trung Cộng, từng được nghe Mao Trạch Đông tuyên bố đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng, nhưng Lê Duẩn vẫn cương quyết làm tay sai, thì có đúng Lê Duẩn bị quỷ ám?

Thử hỏi trong lịch sử Việt Nam có đời vua nào tuyển mộ dân sang Tàu để học cách chửi cha mắng mẹ như Hồ Chí Minh gửi cán bộ sang Trung Cộng học cách đấu tố của Mao Trạch Đông? Việc làm vô đạo đức của Hồ Chí Minh là có mục đích tiêu diệt văn hóa tổ tiên, để rồi ngày nay xã hội Việt Nam thành địa ngục, đến nỗi thi sĩ cộng sản Bùi Minh Quốc phải than thở về cái xã hội cộng sản “nhìn vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa”. Còn Thái tử Lê Kiến Thành – con trai Lê Duẩn – cũng phải tởm lợm, lắc đầu cái chủ nghĩa xã hội thối tha, mục nát, sa đọa!


Ông Ngô Đình Diệm được vua Bảo Đại mời sang Paris để đảm nhiệm chức vụ Thủ tướng lãnh đạo Miền Nam. Ông Diệm tỏ ra ngần ngại vì biết tình thế hết sức khỏ khăn. Nhưng cuối cùng ông đành chấp nhận vì vua khẩn thiết kêu gọi trách nhiệm công dân đối với Tổ Quốc.


Ngày 7 tháng 7 năm 1954 ông Ngô Đình Diệm về nước để lãnh nhiệm vụ Thủ tướng, nhưng tiền Mỹ viện trợ vẫn qua tay Pháp, rồi Pháp mới chuyển giao cho Chính phủ để Thủ tướng điều hành việc nước. Do sự tranh đấu quyết liệt của Thủ tướng Ngô Đình Diệm, mãi tới năm 1955 Thực dân Pháp mới chịu trao quyền lãnh đạo cho Chính phủ Việt Nam và chấp thuận rút quân về Pháp. Mặc dầu Pháp là Đồng Minh của Mỹ, nhưng Pháp thù Mỹ không giúp cứu Điện Biên Phủ. Giận cá chém thớt, Pháp ra sức phá chính quyền Miền Nam. Cuộc đảo chánh do tay Pháp tổ chức năm 1960 thất bại, vì Mỹ không ủng hộ. Nhưng cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 thành công, vì Mỹ chủ mưu.


* Mặc dầu Hoa Kỳ đã chuyển vận gần một triệu dân Bắc vào Nam thoát khỏi sự tàn ác của cộng sản, nhưng chưa đủ để cho Miền Nam thức tỉnh trước hiểm họa cộng sản.


* Mặc dầu lãnh tụ của các đảng như Việt Quốc, Đại Việt, Duy Dân bị Hồ Chí Minh thủ tiêu, nhưng lãnh tụ kế thừa không đoàn kết với nhau để diệt cộng sản, lại âm mưu lật đổ chính quyền.


* Mặc dầu cộng sản coi tôn giáo là thuốc phiện, nhưng lãnh tụ Phật giáo nắm đa số dân tộc, đã bị cộng sản sai khiến, gây nên xáo trộn chính trị liên tục ở hậu phương. 


Ngay cả Quân Đội Quốc Gia được Thực dân Pháp đào tạo cũng không ý thức hiểm họa cộng sản. Các khóa sinh Không Quân Việt Nam khi đang thụ huấn quân sự tại Pháp nghe tin Việt Minh chiến thắng Điện Biên Phủ, thì tỏ ra vui sướng reo hò mừng rỡ, tung nón lên cao một cách đầy hứng khởi, bất chấp mình đang ở phía tự do chống cộng sản, là một thí dụ cho thấy họ bị quỷ ám. Trong lúc quân đội hai phe giao tranh, dân chúng đều chạy về phía Quốc gia lánh nạn cũng không làm cho bọn trí thức mang đầu óc thân Cộng thức tỉnh.



Theo sự thỏa thuận của Hiệp định Genève năm 1954, người ở Bắc vĩ tuyến 17 không thích chế độ cộng sản thì “di cư” vào Nam. Người nào ở Nam vĩ tuyến 17 thích cộng sản thì tập kết ra Bắc. Nhưng đấy là trên lý thuyết. Chỉ có Việt Cộng phái cán bộ ngăn cản người Bắc “di cư” vào Nam, nhưng Chính phủ Miền Nam không ngăn ai tập kết ra Bắc. Việt Cộng có kế hoạch chỉ thị cán bộ lấy phụ nữ Miền Nam càng nhiều càng tốt để gieo hạt giống đỏ. Lê Duẩn cũng công khai lên đường tập kết, nhưng đến bến tàu khác thì bí mật xuống để ở lại và xây dựng hạ tầng cơ sở cho cuộc xâm lăng Miền Nam.


Tổng thống Ngô Đình Diệm có một thời gian bình yên để kiến thiết đất nước. Từ một xứ sở hoang tàn do chiến tranh, Tổng thống Diệm đã biến Saigon thành hòn ngọc Viễn Đông. Ông được thế giới ca ngợi là vị lãnh tụ tài ba sánh với Thủ tướng Nehru của Ấn Độ. Công du Hoa Kỳ, ông được đón tiếp trọng thể.


Nhưng tới năm 1960 bọn tay sai Thực dân Pháp như Vương văn Đông, Trần Đình Lan làm cuộc đảo chánh là dấu hiệu cuộc chiến từ kẻ nội thù bắt đầu mở màn. Cùng năm 1960, Việt Cộng ra Nghị quyết ngày 20 tháng 12 thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam thì bộ máy chiến tranh xâm lăng của Việt Cộng bắt đầu chuyển động.


Tổng thống De Gaulle của Pháp hận Tổng thống Franklin Roosevelt coi thường mình trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, lại thêm nỗi hận Mỹ không giúp Pháp thắng trận Điện Biên Phủ, nên Pháp luôn luôn âm mưu phá Mỹ bằng nhiều cách, như đề nghị trung lập hóa bán đảo Đông Dương là một. Cố vấn chính trị của Tổng thống John Kennedy là Averell Harriman, có vợ người Pháp, để nghị trung lập hóa Lào và được Tổng thống Kennedy chấp thuận. Tổng thống Diệm chống, vì trung lập hóa Lào là giúp Việt Cộng dùng Lào để đưa quân và vũ khí vào Nam dễ dàng. Biết giữa Mỹ và Việt Nam có sự xung đột, cáo già Hồ Chí Minh nhờ Ủy hội Quốc tế Kiểm soát đình chiến mang một cành đào vào Nam chúc Tết Tổng thống và một bức thư đề nghị “anh em hai miền” nên thương thảo với nhau để tiến tới thống nhất xứ sở trong hòa bình.


Cuộc họp bí mật giữa ông Cố vấn Ngô Đình Nhu và Phạm Hùng xảy ra tại rừng Tánh Linh. Mỹ cho rằng Tổng thống Diệm phản bội mình, bí mật họp với Việt Cộng mà không cho mình hay biết. Thật ra, đó là trò phản gián, tình báo do Mao Trạch Đông bày cho Hồ Chí Minh để phân hóa giữa Mỹ và Việt Nam. Để trừng phạt Tổng thống Diệm, Mỹ liền dùng Trí Quang khuấy động về mặt chính trị, dưới danh nghĩa bảo vệ đạo pháp; mặt khác Mỹ bỏ tiền ra mua chuộc Tướng lãnh làm cuộc tạo phản. Mỹ tưởng rằng sau khi giết ông Diệm, Trí Quang sẽ ngưng đội lốt tôn giáo để gây bất ổn chính trị và Mỹ tưởng có thể sai khiến các Tướng lãnh bình định được tình hình như ý mình muốn. Mỹ đã lầm to, vì đánh giá sai!


Không ngờ Trí Quang vẫn tiếp tục “tranh đấu vì đạo pháp” và Tướng lãnh Việt chỉ đấu đá nhau, hết đảo chánh đến chỉnh lý mà không cần biết nguy cơ mất nước vào tay Việt Cộng đang cận kề. Mỹ dùng Tướng lãnh đảo chính ông Diệm, rồi Mỹ mạt sát Tướng lãnh Việt Nam  là lũ côn đồ giết anh em ông Diệm một cách dã man.  Ngoài ra, Tướng Dương văn Minh, Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, sau khi lật đổ chế độ, ra lệnh dẹp bỏ Ấp Chiến Lược mà Mỹ không thấy ý đồ của Dương văn Minh nhằm dâng Miền Nam cho Việt cộng, thì tình báo của Mỹ quá yếu.


Sau đây là cái “video clip” về cuộc phỏng vấn của Cựu Bộ trưởng Lâm Lễ Trinh với Cựu Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia Nguyễn văn Y chứng tỏ Tướng Dương văn Minh là Việt Cộng nằm vùng:


BMhttps://www.youtube.com/watch?v=eq6jfKxEPW4

Anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm bị bọn côn đồ (“Thugs” là chữ của Tổng thống Lyndon Johnson dùng để chỉ các Tướng lãnh đảo chánh) giết là vì yêu đất nước và dân tộc Việt Nam. Giá như ông Diệm biết rằng chung quanh ông là một bọn phản phúc, thì hãy giao cái đất nước bất hạnh này cho Mỹ muốn làm gì thì làm và đi ra ngoại quốc sống. Bởi vì ông Ngô Đình Nhu đã tiên đoán trong cuốn sách “Chính Đề Việt Nam” rằng nếu chính thể này sụp đổ, thì chỉ một thập niên sau, cộng sản Bắc Việt sẽ chiếm toàn thể lãnh thổ!


Năm 1966, Trí Quang xúi giục Tướng Nguyễn Chánh Thi chống lại Chính quyền Trung Ương, Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ phái ba ông Tướng Nguyễn văn Chuân, Huỳnh văn Cao và Tôn Thất Đính ra dẹp. Cả ba đều chịu thua. Về sau, đích thân Tướng Kỳ và Tướng Loan, hai ông Tướng Không Quân, ra dẹp thì mới yên, đủ chứng tỏ Tướng của ta bất tài. Thêm một điểm nữa để anh em chiến sĩ nhận định: Vì không thấy Việt Nam có Tướng tài, có chiến công hiển hách, nên trong dân gian mới có câu ca tụng “Nhất Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng” để chỉ Tướng Nguyễn Đức Thắng, Tướng Phan Trọng Chinh, Tướng Nguyễn Viết Thanh, Tướng Ngô Quang Trưởng là những vị Tướng trong sạch, thì chẳng khác gì chê các Tướng khác không trong sạch. Không có Tướng tài, đành vinh danh Tướng sạch vậy! Thật tội nghiệp cho các chiến sĩ trẻ Việt Nam thiện chiến, gan dạ không may có cấp chỉ huy tồi!


Nhận thấy khả năng Tướng lãnh của mình như thế, tình hình chính trị bị rối ren do Việt Cộng khuấy động, Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ hô hào Bắc Tiến để lên tinh thần quân sĩ.  Ông cho tôi biết trong cuộc họp riêng tư với Tổng thống Lyndon Johnson tại Honolulu, ông khẩn thiết yêu cầu Mỹ trang bị cho Việt Nam vũ khí tối tân và Mỹ yểm trợ Không Quân, Hải Quân cho Quân Lực Việt Nam tiến đánh ra Bắc. Nhưng Johnson không tán đồng, vì sợ Trung Cộng nhảy vào can thiệp, chiến tranh lan rộng sẽ có nguy cơ trở thành Thế giới Chiến tranh thứ III.


Nếu tôi nói lãnh đạo Mỹ thua Việt Cộng là vì ngu, chắc chắn độc giả sẽ cho tôi ngạo mạn. Xin kể câu chuyện này để quý vị hiểu rằng không cứ là thông thái, thì biết hết mọi việc. Nhà bác học Albert Einstein yêu cầu người thợ mộc đục hai cái lỗ, một lớn một nhỏ, ở cửa để cho con mèo mẹ và mèo con chui ra chui vào. Người thợ mộc hỏi: “Tại sao phải cần hai lỗ? Một lỗ lớn là đủ cho mèo mẹ, mèo con chui vào, thưa Ngài?” Nghĩ một lúc, nhà bác học vò đầu suy nghĩ một hồi lâu, rồi mới nhận ra mình tối dạ hơn anh thợ mộc!


Mỹ ngu vì có sức mạnh mà không sử dụng giống như Tướng Douglas MacArthur đã đánh bại quân Bắc Hàn và chí nguyện quân Trung Cộng. Sau khi lật đổ chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa, tình hình chính trị, quân sự Việt Nam trở nên bết bát. Đáng lý ra, chính Mỹ phải tự mình diệt Việt Cộng, nơi bắt nguồn cuộc xâm lăng Miền Nam. Trái lại, Mỹ áp lực Tướng Kỳ tổ chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến thể theo sự đòi hỏi của Ấn Quang để dựng nền Đệ Nhị Cộng Hòa là thất sách. Bởi vì vấn đề tự do dân chủ không thể là giải pháp để chiến thắng cuộc chiến tranh Việt Nam! Đối với cộng sản, ta phải diệt bằng sức mạnh đang có. Hòa đàm với cộng sản là tự sát!


Mỹ đã bị cộng sản dụ vào sách lược “Chiến Tranh Nhân Dân”, tự mình hủy bỏ ưu thế sức mạnh tốc chiến tốc thắng. Chiến tranh dai dẳng là nguyên nhân khiến cho phong trào phản chiến ra đời. Tất nhiên chính phủ phải đàn áp bạo loạn. Đó là thời cơ vàng để cho cộng sản áp dụng lời dạy “Nơi nào có bất mãn, nơi đó có nổi dậy đấu tranh”. Việt Cộng dám huênh hoang tuyên bố chúng sẽ đánh bại Mỹ tại Washington DC là vì chúng biết cộng sản quốc tế đang lũng đoạn nước Mỹ. Tưởng rằng giúp cho Tàu giàu lên thì Tàu từ bỏ chủ nghĩa cộng sản là hết sức sai lầm. Chủ trương của cộng sản là diệt Mỹ để làm bá chủ thế giới. Khẩu hiệu “Trường kỳ mai phục, nhất định thắng lợi” là ý đồ không lay chuyển của cộng sản. Cho nên cái bắt tay của Nixon với Mao Trạch Đông là bước đầu Mỹ rước quỷ sứ vào nhà để cho cộng sản mai phục. Tư tưởng phản chiến với câu khẩu hiệu “Make Love. Not War” được khai thác tối đa làm cho thanh niên trở nên trụy lạc, nghiện ma túy và xa rời giáo lý Thiên Chúa. Lớp người lãnh đạo nước Mỹ ngày hôm nay, gồm cả Dân Chủ lẫn Cộng Hòa, là những sinh viên của thời 1960 mang tư tưởng xã hội cộng sản. Nhất là Truyền thông Mỹ phần lớn là học trò của Walter Cronkite, một nhà báo nổi danh về tư tưởng chống chiến tranh diệt Cộng ở Miền Nam.


Có quan điểm cho rằng Mỹ dùng thế cờ thí con chốt Việt Nam để bắt con xe Trung Cộng nhằm phân hóa khối cộng sản Liên Xô – Trung Cộng. Tôi cho rằng quan điểm đó không chính xác. Bởi vì bao lâu thế cờ thí chốt bắt xe của Mỹ làm cho Trung Cộng bị chiếu bí, thì mới gọi là nước cờ cao. Đằng này, nội tình nước Mỹ đang phân hóa trầm trọng. Khẩu hiệu “Black Lives Matter” chẳng khác gì khẩu hiệu “Đấu Tranh Vì Đạo Pháp” của bọn thầy tu đội lốt làm sụp đổ Việt Nam Cộng Hòa.



Tôi không phải là người bi quan trước thời cuộc. Với cái đà hủy hoại nước Mỹ mà đảng Dân Chủ đang thi hành, với đảng viên Cộng Hòa phản bội, với Tướng Mark Milley Tổng Tham Mưu trưởng Liên Quân (Joint Chief Staff) không thấy chủ trương phân biệt chủng tộc là do âm mưu của cộng sản, với cơ quan FBI, CIA làm tay sai cho Trung Cộng, tôi khẳng định ra nước Mỹ sẽ sụp đổ giống như Việt Nam Cộng Hòa.


Do đó, tôi có thể kết luận mà không sợ sai lầm rằng Mỹ chết vì không kết thúc chiến tranh Việt Nam bằng sức mạnh quân sự của mình, lại giao trách nhiệm cho Việt Nam Cộng Hòa – một dân tộc không ý thức hiểm họa cộng sản – để chống lại toàn khối cộng sản.


Bằng Phong Đặng văn Âu - Báo Mai


Phương Tây Đang 'Ngây Thơ' Trước Một Trung Quốc Nham Hiểm?

 

Cờ của Liên minh Châu Âu bay bên ngoài Nghị viện Châu Âu ở Strasbourg, Pháp, vào ngày 11 tháng 5 năm 2016. (Christopher Furlong / Getty Images)

PHƯƠNG TÂY ĐANG 'NGÂY THƠ' TRƯỚC MỘT TRUNG QUỐC NHAM HIỂM?
Lê Minh

Cho dù muốn hay không muốn, các nền dân chủ phương Tây đã bị cuốn vào một cuộc cạnh tranh mới, ngày càng sâu sắc với Trung Quốc, và các nhà lãnh đạo của họ càng nhanh chóng nắm bắt được thực tế nghiệt ngã này, thì họ càng có tư thế để đối đầu tốt hơn.

Ông Armin Laschet, người dẫn đầu trong cuộc chạy đua trở thành thủ tướng tiếp theo của Đức, gần đây đã nói rằng ông không muốn chiến tranh lạnh với Trung Quốc. Ông Laschet không phải là người duy nhất suy nghĩ như vậy. Nhiều chính trị gia phương Tây đang cảnh giác với quan điểm chống lại Bắc Kinh, trong đó có Tổng thống Pháp Emmanuel Macron và cựu ứng cử viên Tổng thống Mỹ, Thượng nghị sĩ Bernie Sanders. Liệu họ có đáng trách không? Rõ ràng, việc quay trở lại những ngày đen tối của sự cạnh tranh không ngừng giữa các siêu cường sẽ chỉ làm tổn hại đến sự thịnh vượng và làm sống lại bóng ma của cuộc xung đột tàn khốc.

Nhưng theo ông Michael Schuman, tác giả của "Siêu năng lực bị gián đoạn: Lịch sử Trung Quốc của thế giới" và "Điều kỳ diệu: Câu chuyện sử thi về hành trình tìm kiếm sự giàu có của châu Á", cho dù muốn hay không muốn, các nền dân chủ phương Tây đã bị cuốn vào một cuộc cạnh tranh mới, ngày càng sâu sắc với Trung Quốc, và các nhà lãnh đạo của họ càng nhanh chóng nắm bắt được thực tế nghiệt ngã này, thì họ càng có tư thế để đối đầu tốt hơn.

Phải làm gì để đối phó với Trung Quốc khi mà sự trỗi dậy của quốc gia này đã trở thành tâm điểm trong cuộc thảo luận giữa Mỹ và các đồng minh? Tổng thống Joe Biden đã thúc đẩy một đường lối cứng rắn hơn tại cuộc họp G7 vào tháng này, và mặc dù các quốc gia công nghiệp phát triển lớn đã cố gắng tạo ra một mặt trận thống nhất, nhưng rõ ràng là sự khác biệt vẫn còn và các cuộc tranh luận vẫn diễn ra gay gắt. Cả 2 bên đều có những luận điểm xác đáng: Washington coi Bắc Kinh là một mối đe dọa cần phải đương đầu; những người khác, dẫn đầu là bà Angela Merkel, không sẵn sàng từ bỏ mối quan hệ khăng khít này.

Sai lầm lớn nhất của các cường quốc phương Tây là nghĩ rằng họ vẫn đang ngồi trên ghế lái trong quan hệ với Trung Quốc. Tất nhiên, quyết định của họ rất quan trọng, nhưng Trung Quốc cũng vậy, và hiện giờ tính quyết định của Bắc Kinh trong “cuộc chơi” này còn trở lên quan trọng hơn bao giờ hết. Tất nhiên, chính sách đối ngoại của Trung Quốc, giống như bất kỳ quốc gia nào, một phần là để phản ứng với sự thay đổi của thời đại. Nhưng Bắc Kinh có chương trình nghị sự riêng, bắt nguồn từ nền chính trị của đất nước và thế giới quan của giới lãnh đạo và đang vận hành theo cách riêng của họ. Điều đó sẽ tiếp tục đối chọi với những điều các nhà hoạch định chính sách ở Washington, Berlin và Paris đang hướng tới.

Mục tiêu của Bắc Kinh là làm bất cứ điều gì cần thiết để khôi phục quyền lực của Trung Quốc - từ xây dựng khả năng quân sự cho đến tài trợ cho nghiên cứu chip. Điều này bản thân nó không nhất thiết là điều xấu. Những người ở Mỹ và châu Âu hoàn toàn ủng hộ việc Trung Quốc trở nên thịnh vượng, có ảnh hưởng lớn hơn và là trụ cột của tiến bộ kinh tế toàn cầu.

Tổng thống Nga Vladimir Putin và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến dự tiệc chào mừng các nhà lãnh đạo tham dự Diễn đàn Vành đai và Con đường tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh, Trung Quốc, vào ngày 26 tháng 4 năm 2019. (Ảnh của Nicolas Asfouri/Pool/Getty Images)

Nhưng ban lãnh đạo hiện tại do Chủ tịch Tập Cận Bình đứng đầu đang theo đuổi lợi ích quốc gia của mình theo những cách khiến xung đột với các nền dân chủ phương Tây gần như không thể tránh khỏi. Ông Tập không chỉ khẳng định tầm ảnh hưởng mới của Trung Quốc; ông ta còn đang sử dụng nó như một thứ công cụ để làm suy yếu các lợi ích chính trị, kinh tế và chiến lược của Hoa Kỳ và các đồng minh của họ. 

Với việc chiếm gần như toàn bộ Biển Đông, Bắc Kinh đang vi phạm các quy tắc quốc tế. 

ĐCSTQ đang tấn công các lý tưởng dân chủ bằng cách lạm dụng những phương tiện truyền thông xã hội cởi mở của phương Tây và phản đối các nhà phê bình. Những người thách thức Bắc Kinh, chẳng hạn như chính phủ Úc, phải đối mặt với chiến tranh kinh tế nhằm ép buộc họ phải nghe theo.

Ông Tập đã báo hiệu hướng đi này trong nhiều năm. Ông này kêu gọi một “kiểu quan hệ quốc tế mới”, bề ngoài có vẻ rất tốt đẹp: “Tất cả các quốc gia nên tôn trọng chủ quyền, phẩm giá và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, các con đường phát triển và hệ thống xã hội của nhau”. Nhưng điều đó trong thực tế lại có nghĩa là một trật tự toàn cầu, nơi dân chủ không thống trị tối cao. 

Đây chính là mối đe dọa đối với chính nền tảng của hệ thống toàn cầu hiện tại - mối đe dọa từ một cường quốc độc tài có ý định định hình lại trật tự quốc tế.

Ông Tập đã biện minh cho chế độ ngày càng đàn áp của mình bằng cách hứa sẽ đạt được “Giấc mộng Trung Hoa”, một sự phục hồi sự vĩ đại của quốc gia, điều cốt yếu đối với sự thống trị tiếp tục của ông ta.

Với những nguy cơ đe dọa tứ bề, ông Tập đang tìm cách ngăn cản Mỹ và các đồng minh can thiệp làm xáo trộn những toan tính của mình. Các nhà lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc đã vạch ra những “lằn ranh đỏ” về mọi vấn đề được phương Tây quan tâm, bao gồm tình trạng của Đài Loan và cuộc đàn áp đối với phong trào ủng hộ dân chủ ở Hồng Kông. 

Trong chính sách kinh tế, các quan chức đã thể hiện sự không sẵn sàng giải quyết những bất bình của các đối tác thương mại, từ việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đến các khoản trợ cấp làm bóp méo thị trường. Tháng 3 vừa qua, tại một cuộc họp với các quan chức Mỹ ở Alaska, Bộ Chính trị Dương Khiết Trì đã nói rõ rằng Bắc Kinh không còn cảm thấy cần phải lắng nghe Washington nữa.

Đó là quyền của Trung Quốc. Nhưng nó cũng để lại rất ít không gian để thương lượng. Tuy nhiên, một số chính trị gia ở thế giới phương Tây dường như không chú ý đến. Ông Sanders, trong một bài luận gần đây , đã lập luận một cách ngây thơ về sự hợp tác và lập trường cứng rắn đối với các vấn đề vi phạm nhân quyền - đây chính xác là những gì mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã thẳng thừng bác bỏ.

Ông Laschet tin rằng Trung Quốc vẫn là một đối tác quan trọng trong các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu và không thể đơn giản bị coi là đối thủ. Ông và một số lãnh đạo phương Tây cố bám víu lấy hy vọng này và  coi đó như một con đường để tránh một cuộc đối đầu rộng lớn hơn.

Nhưng đi theo con đường đó có cái giá phải trả: Phải tuân theo chương trình nghị sự lớn hơn của Bắc Kinh và rơi vào cái bẫy mà nó đã giăng ra đối với trật tự tự do và các giá trị dân chủ. Rõ ràng, lựa chọn giữa một cuộc chiến tranh lạnh mới hoặc chấp nhận một cường quốc độc tài không phải là điều mà các nhà lãnh đạo phương Tây muốn thực hiện. Nhưng Trung Quốc đang làm điều đó cho họ.

Lê Minh - NTD
Theo Bloomberg

Ngâm Thơ - Đôi Mắt Người Sơn Tây

Video Ngâm Thơ - ĐÔI MẮT NGƯỜI SƠN TÂY

Thơ: Quang Dũng
Giọng ngâm: Hoàng Khai Nhan

Trân trọng
NHHN



Xin mời quý vị thưởng thức 



Trở Thành Người Sài Gòn Từ Bao Giờ

 


TRỞ THÀNH NGƯỜI SÀI GÒN TỪ BAO GIỜ (60 Năm Sài Gòn Trong Tôi Phần 3 - Hết)
Văn Quang

Nơi tôi đến đầu tiên là Chợ Lớn. Một cuốc taxi từ giữa trung tâm TP đến cuối Chợ Lớn mất 12 đồng. Tôi tìm đến khách sạn rẻ tiền của mấy thằng bạn Bắc Kỳ ở đường Tản Đà, một con phố nhỏ, ba bốn thằng thuê chung một phòng cũng chẳng có “ông mã tà” nào hỏi đến. Chợ Lớn hồi đó tấp nập hơn ở Sài Gòn, con phố Đồng Khánh chi chít những khách sạn, hàng ăn, cửa tiệm tạp hóa lu bù tưởng như mua gì cũng có. Chúng tôi cũng biết cách chui vào Kim Chung Đại Thế Giới xem thiên hạ đánh bạc. Hôm đó có anh Nguyễn Trọng Bảo cùng Đại Đội tôi nhưng lớn hơn chúng tôi vài tuổi và là một cặp với Nguyễn Năng Tế (lúc đó mới là người yêu của nữ diễn viên điện ảnh Kiều Chinh). Anh thử đánh “tài xỉu”, may mắn làm sao, một lúc sau đó anh được khoảng vài trăm ngàn. Thế là chúng tôi xúi anh “ăn non”, không chơi nữa, rủ nhau đi ăn.


Bắt đầu từ hôm đó chúng tôi đi “khám phá” Sài Gòn và rồi theo cùng năm tháng trở thành người Sài Gòn lúc nào không biết. Càng có nhiều thăng trầm chúng tôi càng gắn bó với Sài Gòn hơn.

Các cửa hàng đá quý vàng bạc càng vắng vẻ

Lần thứ hai trở lại Sài Gòn

Tôi lại nhớ ngày trở về Sài Gòn sau hơn 12 năm đi tù cải tạo từ Sơn La đến Vĩnh Phú rồi Hàm Tân. Đó là vào buổi chiều tháng 9 năm 1987. Khi đoàn xe thả tù cải tạo bị giữ lại nhà giam Chí Hòa nghe các ông quan chức trấn an về số phận chúng tôi khi được trở về, khoảng hơn 5 giờ chiều chúng tôi mới được thoát ra khỏi cánh cửa sắt nhà tù Chí Hòa. Ngay từ cổng trại tù đã có đoàn quay phim đợi sẵn để quay cảnh “vui mừng đoàn tụ” của tù nhân, chắc là để chứng tỏ cái sự “khoan hồng bác ái” của nhà nước cho những thằng may mắn không chết trong ngục tù. Lại là lần thứ hai tôi đặt chân lên đất Sài Gòn nhưng với tư cách khác giữa một thành phố đã đổi chủ.

Thấy cái cảnh sẽ bị quay phim, Trần Dạ Từ kéo tôi lên vỉa hè đi lẫn trong đám thân nhân được vận động ra đón tù cùng những người dân tò mò nhình “cảnh lạ”. Tránh được cái máy quay phim, chúng tôi đi gần như chạy ra khỏi con phố nhỏ này. Ra đến đường Lê Văn Duyệt, chúng tôi đi chậm lại, nhìn đường phố mà cứ thấy đường phố đang nhìn chúng tôi với một vẻ xa lạ và xót thương? Trần Dạ Từ còn lại ít tiền, anh rủ tôi ghé vào đường Hiền Vương ăn phở. Chẳng biết là bao nhiêu năm mới lại được ăn tô phở Hiền Vương đây. Tôi chọn quán phở ngay sát cạnh tiệm cắt tóc Đàm mà mấy chục năm tôi cùng nhiều bạn bè vẫn thường đến cắt tóc. Có lẽ Trần Dạ Từ hiểu rằng anh về đoàn tụ cùng gia đình chứ còn tôi, vợ con đi hết, nhà cửa chẳng còn, sẽ rất cô đơn, nên anh níu tôi lại. Ngồi ăn tô phở tưởng ngon mà thấy đắng vì thật ra cho đến lúc đó tôi chưa biết sống ra sao giữa thành phố này.

Ở tiệm phở bước ra, chúng tôi đi bên nhau dưới ánh đèn chập choạng của con đường Duy Tân mà Phạm Duy gọi là con đường Đại Học “uống ly chanh đường, uống môi em ngọt.” Đến ngã tư Phan Đình Phùng, tôi chia tay người bạn tù Trần Dạ Từ, đi lang thang trong cô đơn, trong bóng tối của chính đời mình. Bây giờ tôi mới hiểu hết nghĩa của sự cô đơn là thế nào. Tôi bắt đầu cuộc sống lưu lạc trên chính quê hương mình.

Tôi tìm về nhà ông anh rể đã từng nuôi nấng tôi suốt những năm tháng trong tù. Bắt đầu từ đó tôi trở thành người Sài Gòn khác trước. Và rồi với những cùng khổ, những khó khăn, tôi đã tự mình đứng lên. Bởi tôi thấm thía rằng thằng bạn đồng minh xỏ lá đã phản phé mình, lúc này không ai cứu mình cả, anh không vượt qua nó, nó sẽ đè chết anh. Vì thế cho đến bây giờ sống giữa Sài Gòn, tôi phải là người Sài Gòn và mãi mãi sẽ là người Sài Gòn. Làm được cái gì hay chết bẹp dí là do mình thôi.

Tác giả thẫn thờ đứng nhìn công trường Lam Sơn đang bị phá bỏ

Đi tìm hoài niệm

Tôi không lan man về chuyện cũ tích xưa nữa, bởi nói tới những ngày tháng đó chẳng biết bao giờ mới đủ. Cho đến hôm nay, 25 tháng Tám năm 2014, hơn 60 năm ở Sài Gòn, mọi người đang xôn xao về những đổi thay lớn của Sài Gòn, tôi không thể ngồi yên. Tôi muốn chính mắt mình được nhìn thấy những thay đổi ấy. Mặc dù qua 2 lần nằm bệnh viện và với cái tuổi trên tám mươi, tôi đã mất sức nhiều, hầu như suốt ngày ngồi nhà đã từ ba tháng nay. Tôi điện thoại cho Thanh Sài Gòn rủ anh đi thăm “cảnh cũ người xưa”. Chúng tôi vào phở Hòa, môt tiệm phở nổi tiếng từ trước năm 1975 cho đến nay. Con đường Pasteur đan kín xe cộ, tiệm phở Hòa có vẻ tấp nập hơn xưa. Bạn khó có thể tìm lại một chút gì đó của “muôn năm cũ”. Tô phở bị “Mỹ hóa” vì cái tô to chình ình và miếng thịt cũng to tướng, có lẽ ông bà chủ đã học theo phong cách những tiệm phở VN ở Mỹ. Nó “to khỏe” chứ không còn cái vẻ “thanh cảnh” như xưa nữa.


Sau đó, nơi tôi tìm đến đầu tiên chính là Thương Xá Tax. Vừa đến đầu hai con đường gặp nhau Pasteur – Lê Lợi đã nhìn thấy một hàng rào bằng tôn chạy dài. Đường Lê Lợi chỉ còn đủ một lối đi nhỏ dẫn đến Thương Xá Tax và công viên Lam Sơn. Chiếc xe gắn máy len lỏi cho đến tận cuối đường Lê Lợi sát mép đường Tự Do. Chúng tôi đứng trước cửa Thương Xá Tax đang bày ra cảnh vô cùng vắng vẻ, chỉ có tôi và anh bảo vệ nhìn nhau. Anh thừa biết tôi đến đây để làm gì. Anh bảo vệ cũng không còn làm cái nhiệm vụ cao quý là mở cửa đón khách, anh để mặc tôi tự do đẩy cánh cửa kính nặng chịch đi vào trong khu thương mại. Đèn đuốc vẫn thắp sáng choang, chiếc thang máy cuốn vẫn lặng lẽ chạy không một bóng người. Nó mang một vẻ gì như người ta vẫn lặng lẽ theo sau một đám tang.

Trong quầy hàng đầu tiên, điều khiến tôi chú ý là hàng chữ nổi bật hàng đại hạ giá (Big Sale) tới 70% đỏ loét chạy dài theo quầy hàng và hàng chữ “TẠM BIỆT THƯƠNG XÁ TAX”.


Tôi cố gợi chuyện với cô chủ hàng xinh xắn: Cô phải đề là “TỪ BIỆT” THƯƠNG XÁ TAX mới đúng chứ, sao lại là “TẠM BIỆT”? Cô hàng trẻ đẹp thở dài ngao ngán: “Ấy người ta còn hứa khi nào căn nhà 40 tầng làm xong sẽ cho chúng tôi được ưu tiên thuê cửa hàng đấy.” Nhưng ngay sau đó cô lại lắc đầu: “Hứa là hứa chứ khi đó mình không cổ cánh, đút lót thì đừng hòng bén mảng tới, ông có tin không?”

Bị hỏi ngược, tôi đâm lúng túng ấp úng nói lảng: Phải đợi tới lúc đó mới biết được. Cô bán hàng quay đi, dường như cô chẳng tin gì cả.
Các quầy hàng khác vẫn mở cửa, mỗi gian hàng chỉ còn lại vài ba người, chắc toàn là những ông bà chủ. Tôi nghĩ họ đang làm công việc khác chứ không để bán hàng. Có ai mua đâu mà bán. Tôi đến hỏi thăm vài ông bà chủ cửa hàng, không tìm thấy bất cứ nụ cười nào trên những khuôn mặt buồn hiu ấy.


Có lẽ vài tuần nay, người đi tìm đồ hạ giá đã “khuân” đi khá nhiều rồi, lúc này những thứ hàng còn lại không còn giá trị nữa. Tuy nhiên cửa hàng nào cũng còn bề bộn hàng ế. Nhìn lên tầng lầu cũng vậy, nó còn vắng vẻ thê thảm hơn.

Tôi bước lên mấy bậc của bục gỗ, ghé vào một tiệm bán máy hình còn nguyên si bởi ông chủ quyết không giảm giá. Tôi hỏi lý do, ông có vẻ liều:

- Thà ế chứ không giảm.

Tôi lại tò mò hỏi tiếp:
- Vậy là ông có một cửa hàng ở nơi khác nữa?

Ông lắc đầu:
- Không.

Tôi hỏi:
- Vậy ông sẽ làm gì?

Câu trả lời của ông cụt lủn:
- Về quê làm ruộng.

Tôi yên lặng trước sự bất bình đó. Đứng nhìn hàng loạt máy hình, máy quay phim đủ loại còn nằm rất thứ tự trong tủ kính sáng bóng. Tôi lại hỏi:

- Chắc họ phải đền bù cho ông những thiệt hại này chứ?
- Chưa có xu nào cả. Thời hạn bắt di dời nhanh quá, trở tay không kịp.


Tôi nghĩ chắc ông này cũng chỉ là người đi thuê lại cửa hàng của một ông nhà giàu nào đó mà thôi, ông có vẻ bất cần đời. Tôi từ giã, ông chỉ gật đầu nhẹ.

Nhìn sang hàng loạt cửa hàng vàng bạc đá quý gần như vẫn còn nằm nguyên vẹn và không một bóng khách vãng lai. Các bà, các cô tha hồ nhìn nhau ăn cơm hộp. Tôi có cảm tưởng một thành phố chết vì chiến tranh gần kề hay vì một nạn dịch nào đó.

Vậy mà tôi vẫn còn đi vơ vẩn trong cái không gian như nghĩa trang sống đó. Tôi đi tìm hình bóng của một thời dĩ vãng, nào vợ con, nào bè bạn, nào những người xa lạ trong cái nhịp thở rộn ràng thân thiện của tất cả Sài Gòn xưa ở chốn này. Chẳng bao giờ trở lại. Tôi muốn gọi tên tất cả trong hoài niệm tận cùng sâu lắng.

Trước cửa Công Ty Cấp Nước Thành Phố, nơi tác giả đặt chân lên Thành Phố  Sài Gòn 60 năm trước

Ngậm ngùi nhìn công viên Lam Sơn trống rỗng

Rồi tôi cũng phải bước ra. Trở về với thực tại, nhưng vẫn gặp cái vắng lặng của vỉa hè chạy dài theo đại lộ Nguyễn Huệ. Dường như chỉ còn có Thanh Sài Gòn ngồi ngất ngư với “người xưa trong ảnh” của một ô quảng cáo vuông vắn phía ngoài thương xá.

Chúng tôi đi qua khu công viên Lam Sơn, lúc này đã được phá sạch, chỉ còn vài cây cổ thụ cao lêu nghêu bên cạnh “công trường” đang làm, dường như hàng cây đứng chờ giờ hành quyết như các “đồng nghiệp” của nó đã bị đốn hạ vài hôm trước. Các bác thợ quần áo xanh, dây đeo chằng chịt đã và đang dọn dẹp cho công trường trống rỗng. Tôi đứng trước Nhà Hát Thành Phố nhìn cảnh “vườn không nhà trống” đó mà ngậm ngùi nhớ tới pho tượng Thủy Quân Lục Chiến sừng sững đứng bảo vệ thành phố ngày nào và nhớ tới những đồng đội TQLC đã ngã xuống hoặc giờ này đã ở khắp phương trời xa.


Chắc hẳn bạn còn nhớ ngay cạnh đó là góc bùng binh Nguyễn Huệ - Lê Lợi còn là nơi tổ chức đường hoa vào dịp Tết. Gia đình nào chẳng một lần kéo nhau đi giữa đường hoa với tâm trạng rộn ràng của một ngày hội hoa xuân. Từ năm nay sẽ mất hẳn, chẳng bao giờ thấy bóng dáng mùa xuân ở đây nữa.

Cuối cùng tôi trở lại nơi mà lần đầu tiên tôi đặt chân lên Thành Phố  Sài Gòn. Tôi đã nhảy xuống xe GMC ở đây, đúng nơi này, phía sau Nhà Hát Thành Phố, bây giờ là trụ sở của Tổng Công Ty Cấp Nước của Thành Phố. Mặt đường nhựa chẳng có gì thay đổi, nó cũng nhẵn mòn như những con đường nhựa khác, nhưng với tôi nó là một dấu son đáng nhớ nhất trong đời. Vậy mà đã đúng 60 năm rồi sao?


Mai này Sài Gòn sẽ còn mất đi nhiều thứ nữa như vòng xoay trước cửa Chợ Bến Thành, một biểu tượng mà bất cứ ai đã đến Sài Gòn dù chỉ một lần cũng không thể nào quên. Đó là những thứ sẽ mất đi để làm tuyến metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên. Ngoài tuyến metro số 1, còn xây dựng thêm 6 tuyến metro khác. Chúng ta sẽ mất đi nhiều di tích xưa cũ. Sài Gòn sẽ đổi khác rất nhiều, để lại trong người Sài Gòn dù ở đâu cũng thấy cảm thấy một nỗi bùi ngùi, nhớ tiếc. 60 năm Sài Gòn, hồn ở đâu bây giờ?

Văn Quang
29 tháng Tám, 2014

Thứ Năm, 1 tháng 7, 2021

Phân Ưu Cụ Ông Ngô Càn Anh

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC

Được tin buồn

Cụ Ông NGÔ CÀN ANH 

Pháp danh Nhuận Dũng

Là bào huynh của thầy Ngô Càn Phương vừa mãn phần ngày 30-06-2021 (nhằm ngày 21 tháng 5 năm Tân Sửu) tại Tuy Hòa, Phú Yên, Việt Nam.

Thượng thọ 97 tuổi

Toàn thể Thầy, Cô và Cựu Học Sinh Liên Trường Phú Yên vô cùng đau buồn và thương tiếc. 

Thành kính chia buồn cùng thầy cô Ngô Càn Phương và tang quyến.

Nguyện cầu hương linh Cụ Ông Ngô Càn Anh sớm Vãng Sanh Miền Cực Lạc.

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

Trân trọng

NHHN




Phân Ưu Cụ Ông GiaCôBê Nguyễn Đình Gia

 




Bước Chân Đầu Tiên Trên Đất Sài Gòn (60 Năm Sài Gòn Trong Tôi Phần 2)

 

Bước chân đầu tiên trên đất Sài Gòn 

BƯỚC CHÂN ĐẦU TIÊN TRÊN ĐẤT SÀI GÒN
Văn Quang 

Thế mà 60 năm rồi đấy, kể từ ngày tôi mới đặt chân lên thành phố Sài Gòn. Tôi nhớ như in, ngày đầu tiên ấy. Cuối tháng 1 năm 1954, sau hai tháng học ở Trường Sĩ Quan Thủ Đức, ngày thứ bảy chúng tôi được đi phép ở Sài Gòn. Niềm mơ ước của tôi từ những ngày còn nhỏ ở trường trung học, ước gì có ngày mình được vào Sài Gòn. Niềm mơ ước ấy còn rộn ràng hơn khi khóa học sĩ quan khai giảng. Thủ Đức – Sài Gòn chỉ có hơn 10 cây số, tuy chỉ cách thành phố rất gần nhưng theo đúng chương trình khóa học, hai tháng sau chúng tôi mới được đi phép. Mấy anh “Bắc kỳ” nôn nao hỏi thăm mấy ông bạn “Nam Kỳ” về Sài Gòn. Từ cái xe taxi nó ra sao, đi thế nào, bởi hồi đó miền Bắc chưa hề có taxi, cho đến Chợ Lớn có những gì… Mấy ông bạn Nam Kỳ tha hồ tán dóc. Đấu óc tôi cứ lơ mơ về cái chuyến đi phép này.


Rồi ngày đi phép cũng đến, một nửa số sinh viên sĩ quan (SVSQ) đi phép mặc bộ tenue sortie là ủi thẳng tắp, áo bốn túi, chemise trắng tính, thắt cravate đen đàng hoàng, giầy đánh bóng lộn có thể soi gương được. Vô phúc quên cái gì là bị phạt ở lại ngay. Nhưng hầu như chưa có anh nào bị phạt. Đoàn xe GMC của trường chở chúng tôi chạy vèo vèo vào thành phố. Ôi cái cửa ngõ vào thành phố hồi đó chưa có gì lộng lẫy mà chúng tôi cũng mở to mắt ra nhìn. Đoàn xe “diễu” qua vài con phố rồi dừng lại trên đường Hai Bà Trưng (hồi đó còn gọi là đường Paul Blanchy), ngay phía sau Nhà Hát Lớn Thành Phố mà sau này là Trụ Sở Hạ Nghị Viện VNCH.

Tất cả các cửa hàng trong thương xá vắng hoe

Cú nhảy từ sàn xe GMC xuống con đường Hai Bà Trưng là bước chân đầu tiên của tôi đến đất Sài Thành hoa lệ. Ông Hồ Trung Hậu là dân miền Nam chính hiệu, ông đã hứa hướng dẫn tôi đi chơi… cho khỏi “ngố”. Chúng tôi đi bộ vào con đường nhỏ bên hông Nhà Hát Thành Phố và khách sạn Continental, vòng ra trước bùng binh Catinat – Lê Lợi (hồi đó còn gọi là Boulevard Bonard) và Nhà hát TP. Nhìn mặt trước nhà hát TP có mấy bức tượng bà đầm cứ tưởng… mình ở bên Tây. Lúc đó đã có nhà hàng Givral rồi, nhưng tôi vẫn còn “kính nhi viễn chi” cái nhà hàng văn minh lịch sự giữa thành phố lớn rộng đó, chưa dám mơ bước chân vào. Ông Hậu vẫy một cái taxi chở chúng tôi về nhà ông. Taxi hồi đó toàn là loại deux cheveaux, nhỏ hẹp sơn hai màu xanh vàng. Khi bước lên xe, đồng hồ con số chỉ là 0, đi quãng nào số tiền nhảy quãng đó.


Những chiếc thang máy không người vẫn chạy đều đều

Trong ngày đầu tiên, tôi ngu ngơ làm quen với không khí Sài Gòn qua gia đình anh em ông Hậu. Hôm sau ông bạn tôi đi với bồ nên tôi bắt đầu cuộc solo giữa thành phố xa lạ này. Tất cả Sinh Viên SQ đều không được đi xe buýt hay xích lô, phải đi taxi. Nhưng lệnh là lệnh, chúng tôi học các đàn anh khóa trước, cởi áo bốn túi, bỏ cravate, cất cái nón đi là lại tha hồ vung vẩy.


Các tầng lầu càng vắng khách

Văn Quang
29 tháng Tám, 2014

60 Năm Sài Gòn Trong Tôi - Phần 1

 

Tượng đài Thủy Quân Lục Chiến

60 NĂM SÀI GÒN TRONG TÔI
Văn Quang

Tượng đài Thủy Quân Lục Chiến giữa công viên Sài Gòn trước năm 1975 nay đã không còn. Văn Quang viết: “Tôi đứng trước Nhà Hát Thành Phố nhìn cảnh “vườn không nhà trống” đó mà ngậm ngùi nhớ tới pho tượng Thủy Quân Lục Chiến sừng sững đứng bảo vệ thành phố ngày nào, và nhớ tới những đồng đội TQLC đã ngã xuống hoặc giờ này đã ở khắp phương trời xa.

‘Nhưng với tôi, Sài Gòn vẫn là Sài Gòn từ trong tâm thức mình, từ trong tận cùng tim óc mình. Thế là đủ và tôi lại phải sống cũng như những người Sài Gòn khác, bất chấp gian khổ.’

Thương xá Tax

Hai tuần nay người Sài Gòn xôn xao về một số công trình xưa cũ sẽ bị phá bỏ lấy đất làm tàu điện ngầm. Rầm rộ nhất là khu Thương xá Tax đã bị “bao vây” bởi những hàng rào chắn chạy dài và tất cả các cửa hàng trong thương xá này phải dời đi vào tháng 10 này để làm một siêu thị 40 tầng văn minh hơn. Hầu như cả thành phố xôn xao, người ta kéo đến mua hàng giảm giá đông như hội. Và cũng có nhiều người đến để nhìn lại chút kỷ niệm xưa với một công trình kiến trúc được xây dựng từ xa xưa khiến bất cứ ai dù chỉ sống ở thành phố này ít năm cũng cảm thấy tiếc nuối. Lứa tuổi già đã có từng hơn nửa thế kỷ với Sài Gòn bỗng nhận ra cái khu thương xá đó không chỉ gắn liền với thành phố mà còn gắn liền với cả gia đình mình.

Hầu như gia đình nào cũng đã từng đưa nhau vào đây mua sắm vài thứ đồ dùng lặt vặt hoặc chỉ dạo quanh, ăn một ly kem, uống một ly cà phê. Nỗi buồn vẩn vơ thật nhưng lại rất sâu sắc như người ta vừa lấy đi một phần đời mình. Bởi cái mất đi đã từng có những kỷ niệm với người thân quen không bao giờ tìm lại được nữa. Người mất kẻ còn, người ra đi, kẻ ở lại đã từng cùng nhau đến đấy.

Đường Lê Lợi phía Thương Xá TAX chỉ còn một lối đi nhỏ

Và còn một số công trình gắn liền với Sài Gòn chẳng phải chỉ là biểu tượng mà còn là da thịt của một thành phố từng được vinh danh là “hòn ngọc viễn đông” này cũng sắp mãi mãi biến mất để nhường chỗ cho công trình ga tàu điện ngầm đầu tiên của tuyến Metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên. Dẫu biết vạn vật đổi dời không có gì là vĩnh cửu cả nhưng cái gì quá thân quen mất đi cũng thấy lòng trống rỗng. Có khi chỉ một cửa hàng như quán cơm bình dân Bà Cả Đọi, tiệm cắt tóc Đàm, nước mía Viễn Đông… mất tích vĩnh viễn, thay vào đó là những tòa nhà chọc trời, những cửa hàng choáng lộn cũng thấy nó lạnh lùng xa lạ.

Văn Quang trước Thương Xá Tax ngày 25-8-2014

Người còn ở trong nước xót xa, người Việt ở nước ngoài tiếc nuối, đó là điểm những người thân quen gặp nhau ở nỗi nhớ nhung tiếc nuối này. Tôi đã đọc khá nhiều bài viết từ nước ngoài và e mail của bạn bè chia sẻ nỗi hoài niệm đó. Như Thế Hải từ Hawaii đã mượn hai câu thơ bất hủ của Bà Huyện Thanh Quan, chia sẻ cùng bè bạn khắp nơi khi nhớ về những cái sắp mất đi của Sài Gòn: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo. Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.”

Với một người còn ở lại như tôi, đã hơn nửa thế kỷ gắn bó với hòn ngọc viễn đông này, hai tuần nay càng thấy lòng hoài cổ dâng trào. Nhớ, nhớ đến từng chi tiết từ cái bước chân đầu tiên đặt lên đất Sài Thành, nhớ từng ngõ ngách, từng nhân vật thuộc về quá khứ ấy cho đến ngày nay. Mặc cho Sài Gòn đã có nhiều tang thương dâu biển, từ cái tên thành phố đến những con đường đã thay họ đổi tên, từ con người đến xã hội cho đến cả cái cách sống cũng đã khác xưa nhiều lắm. Chẳng trách khi xã hội đổi thay, người ta chép miệng than: “Trời làm một trận lăng nhăng, ông hạ xuống thằng, thằng nhảy lên ông, con đĩ đánh bồng nhảy lên bà lớn” cũng chẳng sai. Nhưng với tôi, Sài Gòn vẫn là Sài Gòn từ trong tâm thức mình, từ trong tận cùng tim óc mình. Thế là đủ và tôi lại phải sống cũng như những người Sài Gòn khác, bất chấp gian khổ. Có chăng chỉ là nỗi ngẩn ngơ khi những dấu tích xưa dần mất đi, chẳng bao giờ tìm lại được.

Thanh Saigon với hoài niệm “người xưa” trong ảnh quảng cáo trên vỉa hè bên hông Thương xá Tax

Trong nỗi hoài niệm sâu sắc ấy nhiều buổi chiều đứng trong hành lang hẹp chung cư, nhìn lên khung trời cao, hướng về ánh đèn đêm mơ hồ của thành phố, tôi cố tưởng tượng lại đó vẫn là khung trời xưa, tôi nhớ lại những năm tháng dài tôi sống ở Sài Gòn. Ở đây không chỉ có cảnh quan mà còn có cả những nhân vật là bạn hoặc là người tôi đã từng gặp, từng quen, từng biết đến. Người ở đâu bây giờ? Có biết Sài Gòn của chúng ta đang có rất nhiều người đang nhớ đang mong các “bạn ta” không?

Tạm biệt Thương Xá Tax và hàng giảm giá

Văn Quang
29 tháng Tám, 2014

Chúc Mừng Tháng 7-2021