Thứ Hai, 15 tháng 8, 2022

Thơ Lý Bạch - Bài 60, 61 và 62

 


THƠ LÝ BẠCH - BÀI 60, 61 VÀ 62
Thầy Dương Anh Sơn

BÀI 60

CỔ PHONG KỲ TỨ THẬP NGŨ                         古 風 其 四 十 五

Bát hoang trì kinh hãi,                                                   八荒馳驚 駭,
Vạn vật tận điêu lạc.                                                      萬物盡凋落。
Phù vân tế đồi dương,                                                    浮雲蔽頹陽,
Hồng ba chấn đại hác.                                                   洪波振大壑。
Long phượng thoát võng cổ,                                          龍鳳脫罔罟,
Phiêu dao tương an thác.                                               飄搖將安托。
Khứ khứ thừa bạch câu,                                                 去去乘白駒,
Không san vịnh "Tràng hoắc".                                      空山詠場藿。
Lý Bạch                                                                        李白

Dịch nghĩa:

Cổ phong bài bốn mươi lăm.

Vùng hoang vu xa xôi phải rong ruổi thật mau với nhiều nỗi sợ hãi! Muôn vật  hết thẩy đều héo rụng tơi tả. Đám mây nổi che khuất mặt trời le lói đang lặn xuống; những cơn sóng to làm vang dội vùng sông hồ rộng lớn (c.1-4). Rồng phượng thoát khỏi lưới võng lưới buông; cơn gió thổi lay động cất đi sự yên ổn êm đềm. Chiếc xe có ngựa trắng kéo rong ruổi nơi vùng núi vắng lặng (chỉ còn tiếng) vịnh ngâm bài thơ "Tràng hoắc" thôi! (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

CỔ PHONG BÀI THỨ BỐN MƯƠI LĂM.

Hãi hùng rong ruổi vùng hoang,
Xác xơ muôn vật điêu tàn tả tơi.
Trời chiều mây nổi che rồi,
Dội vang hồ lớn tơi bời sóng tuôn.
Phượng rồng thoát khỏi lưới buông,
Nhấc đem yên ổn thổi bung gió lồng.
Chiếc xe ngựa trắng ruổi rong,
Khúc ngâm "Tràng hoắc" nơi vùng núi yên.

Chú thích:
- bát hoang 八荒: vùng hoang vu khắp tám hướng rất hiếm sự có mặt của con người
- trì 馳: chạy mau, rong ruổi, theo đuổi, truyền đi...
- điêu lạc 凋落: héo rụng, tàn tạ, điêu linh....
- đồi dương 頹陽: mặt trời lặn còn chút ánh sáng le lói.... ( đồi: rơi rụng, suy giảm, suy đồi, sa sút, đổ nát....).
- hồng ba 洪波: cơn sóng lớn (hồng: lớn lao, nước lũ, mưa to nước dâng, hồng thủy (lụt lớn).
- chấn 振: chấn động, vang dội, thâu nhận, thôi, dừng lại, nhấc lên, chấn chỉnh, phấn chấn...
- đại hác 大壑: hang hốc rộng lớn, ao lớn, vùng ao hồ chứa nước to lớn...
- phiêu diêu (dao) 飄搖: gió thổi lay động, gió thổi bùng lên...
- an thác 安托: nhấc khỏi, lấy đi sự yên ổn...
- tràng hoắc 場藿: tên một khúc ngâm, vùng đất có nhiều cây rau hoắc, còn gọi là cây dâu, cây có lá thơm, loại rau có thể ăn được của người nghèo khổ. (Nguyễn Du 阮攸: Khuông trung hà sở thịnh? Lê hoắc tạp tì khang 筐中何所盛,藜藿雜枇糠 - Sở kiến hành 所見行 / Bắc hành tạp lục - Trong giỏ đựng gì nhiều thế? Rau lê, rau hoắc lẫn vỏ cám).

BÀI 61

CỔ PHONG KỲ NGŨ THẬP BÁT                     古 風 其 五 十 八

Ngã đáo Vu Sơn chử,                                                   我到巫山渚,     
Tầm cổ Đăng Dương đài.                                             尋古登陽臺。
Thiên không thái vân diệt,                                            天空彩雲滅,
Địa viễn thanh phong lai.                                             地遠清風來。
Thần nữ khứ dĩ cửu,                                                      神女去已久,
Tương vương an tại tai.                                                襄王安在哉。
Hoang dâm cánh luân thế,                                            荒淫竟淪替,
Tiều mục đồ bi ai !                                                       樵牧徒悲哀。
Lý Bạch                                                                       李白

Dịch nghĩa:

Cổ phong bài thứ năm mươi tám.

Ta đi đến bãi sông ở vùng núi Vu tìm đài Đăng Dương thuở xưa trước. Bầu trời đã vắng bặt những làn mây sắc màu rực rỡ,vùng đất xa xa cơn gió mát và trong lành đã đến (c.1-4). Nữ thần (trong giấc mộng của vua Sở Tương vương) đã đi xa lâu rồi; còn Tương vương vẫn còn ở rất yên lành nơi đây! Vua ham mê nữ sắc nên cuối cùng phải bị phế bỏ để thay vua khác. Chỉ còn người đốn củi và kẻ chăn dắt gia súc đang đi với nỗi buồn sầu mà thôi! (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

CỔ PHONG BÀI THỨ NĂM MƯƠI TÁM. 

Vu Sơn ta đến bãi sông,
Đi tìm đài cũ Đăng Dương thuở nào.
Mây trời vắng bặt sắc màu,
Vùng xa gió đến mát sao trong vời!
Nữ thần đi đã lâu rồi,
Tương vương yên ổn lắm thôi chốn này!
Ham mê nữ sắc phải thay,   
Trên đường tiều mục lòng day dứt sầu.

Chú thích:
- Vu Sơn 巫山: Vùng đất Cao Đường (nay thuộc Hồ Bắc, Trung Hoa) có hai ngọn núi là Vu Sơn và Vu Giáp ở gần đầm Vân Mộng là một danh lam rất nổi tiếng. Sở Tương vương 楚襄王 đời Chiến Quốc vẫn thường đến đây để thưởng ngoạn và một hôm vì mệt nên cho quầy trại nghỉ dưới chân núi Vu. Trong lúc đang say giấc nồng, nhà vua thấy một một thiếu nữ tuyệt đẹp duyên dáng đến chơi với mình cùng trò chuyện tương đắc rồi cùng nhà vua chăn gối mặn mà! Sau đó nhà vua mới hỏi gốc ngọn nàng thiếu nữ xinh đẹp kia. Nàng cho biết nàng là thần nữ 神女 Vu Sơn có nhiệm vụ sáng làm mây, tối làm mưa ở Dương Đài 陽臺 nhân vì đi qua đây và có nhân duyên với nhà vua nên gặp gỡ trao duyên. Tỉnh dậy, nàng thiếu nữ xinh đẹp đã biến mất.Vua thương nhớ và rất lưu luyến bèn cho lập một miếu thờ thần nữ có tên là Đăng Dương Đài 登陽臺. Quan đại phu Tống Ngọc trong triều nhân câu chuyện đã làm bài "Cao Đường Phú" để ghi nhớ việc giao hoan của Sở Tương vương...... Riêng Lý Bạch,ông có cái nhìn khác hơn thông qua câu chuyện và nêu rõ việc thay thế, phế truất Tương vương nguyên do vì sự ham mê nữ sắc với người mang danh là thần nữ và nhiều cung phi mỹ nữ khác,vẫn yên ổn trong giấc mộng Vu Sơn không lo việc triều chính như câu chuyện trên đã dựng ra tương tự việc Đường Huyền tông với Dương Quý phi đương thời....
- chử 渚: bãi cát hay bãi sông làm thành gò giữa sông, bãi cát bờ sông,người đánh cá dọc con sông...
- đăng 登: cái bát đựng đồ cúng trong đền miếu, cái tô đựng thức cúng... Ở đây tên miếu thờ là Đăng Dương Đài vẫn thường được gọi tắt là miếu Dương Đài như lối nói của thần nữ của câu chuyện.
- thiên không 天空: bầu trời trống trải, vắng lặng....
- thái 彩: màu sắc rực rỡ, tia sáng sặc sỡ, vẻ sáng của văn chương, lời khen ngợi...
- Tương vương 襄王: tức Sở Tương vương hay còn tên gọi là Sở Khoảnh Tương vương 楚頃襄王 con của Sở Hoài vương, có tên là Sở Hùng Hoành (còn có tên Mị Hoành) lên ngôi khi vua cha đang bị Tần giam giữ, ông làm vua được 36 năm (299- 263 TCN).
- luân 淪: chìm đắm, trầm luân, trôi dạt, dây dưa, vướng víu, sa sút, làn sóng nhỏ...
- thế 替: thay thế, phế bỏ, suy bại....

BÀI 62

CỔ PHONG KỲ NGŨ THẬP CỬU                      古 風 其 五 十 九

Trắc trắc khấp lộ kì,                                                       惻惻泣路歧,
Ai ai bi tố ti.                                                                   哀哀悲素絲。
Lộ kì hữu nam bắc,                                                        路歧有南北,
Tố ti dịch biến di.                                                           素絲易變移。
Vạn sự cố như thử,                                                         萬事固如此,
Nhân sanh vô định kỳ.                                                   人生無定期。
Điền đậu tương khuynh đoạt,                                         田竇相傾奪,
Tân khách hỗ doanh khuy.                                             賓客互盈虧。
Thế đồ đa phiên phúc,                                                    世途多翻覆,
Giao đạo phương hiểm hi.                                             交道方險巇。
Đẩu tửu cường nhiên nặc,                                             斗酒強然諾,   
Thốn tâm chung tự nghi.                                                寸心終自疑
Trương trần cánh hỏa diệt,                                             張陳竟火滅, 
Tiêu chu diệc tinh ly.                                                      蕭朱亦星離。
Chúng điểu tập vinh kha,                                               眾鳥集榮柯,
Cùng ngư thủ khô trì.                                                     窮魚守枯池。
Ta ta thất quyền khách,                                                   嗟嗟失權客, 
Cần vấn hà sở quy.                                                         勤問何所規。
Lý Bạch                                                                         李白 

Dịch nghĩa:

Cổ phong bài thứ năm mươi chín.

Khóc không thành tiếng với nỗi đau thương, ngậm ngùi nơi nhánh rẽ của con đường đi. Buồn sầu xót xa không nguôi dù khóc (không có nước mắt) và ráo hoảnh như tơ trắng! Đường đi rẽ nhánh có hướng nam, hướng bắc; tơ trắng cũng thay đổi biến hóa (c.1-4). Muôn việc xưa nay vẫn như thế đó! Đời người cũng không đoán định hạn kỳ! Việc đào xới đất đai làm ruộng vườn cũng là để cùng nhau tranh đoạt. Người khách (được mời) đến nhà để giúp đỡ nhau làm cho đầy đủ những chỗ còn đời bao việc tráo trở. Còn những con đường đi luôn kề cận với nhiều nỗi hiểm nguy trắc trở! Thôi hãy bằng lòng đốt nóng với chén rượu mạnh. Một tấc lòng của mình rốt cùng cũng bị ngờ vực! (c.5-12). Chuyện phô bày lâu ngày cũng bị thiêu rụi tan biến! Đã vắng vẻ màu đỏ sang trọng đẹp đẽ đã bị rải nhỏ ly tán khắp nơi! Đàn chim tụ họp nơi cành cây tươi tốt; con cá ở thế cùng cũng chờ đợi ao hồ cạn khô! Than thở và xót thương khi kẻ làm khách phải mất đi sự quyền biến nên ân cần hỏi thăm đâu là những khuôn phép mẫu mực (cho cuộc sống)!? (c.13-18).

Tạm chuyển lục bát:

CỔ PHONG BÀI THỨ NĂM MƯƠI CHÍN.

Xót xa thầm khóc đường đi,
Sầu thương ráo hoảnh như tơ (ti) trắng ngần.
Đường đi rẽ nhánh bắc nam,
Tơ màu trắng muốt cũng đang đổi dời.
Xưa nay muôn việc thế thôi!
Không hề đoán định đời người được đâu!
Ruộng cày giành xới với nhau,
Đến nhà chỗ thiếu khách nao giúp đầy!
Đường đời tráo trở lắm thay,
Hiểm nguy,trắc trở ngay đường đi thôi.
Thôi thì rượu mạnh tràn bôi,    
Tấc lòng rốt lại bị người hồ nghi.
Phơi bày lâu cũng tan đi,
Màu son vắng vẻ rải chia khắp rồi!
Đàn chim tụ họp cành tươi,
Thế cùng ao cạn,cá rồi héo hon.
Xót xa quyền khách chẳng còn,
Ân cần mà hỏi đâu khuôn phép nào?!

Chú thích:

- trắc trắc 惻惻: buồn sầu thảm thiết,xót thương bùi ngùi....
- khấp 泣: khóc thầm,khóc không thành tiếng....
- kỳ 歧: sự khác biệt,đường rẽ nhánh, lầm đường, khác nhau....
- ai ai 哀哀: buồn rầu, thương xót không nguôi.
- bi 悲: buồn bã,sầu thương,khóc không có nước mắt....
- tố ti 素絲: sợi tơ sống trắng nõn chưa nhuộm màu...
- dịch biến di 易變移: đang đổi thay biến dời, di chuyển.v.v...
- cố 固: xưa nay vẫn thế, bền vững, kiên quyết, cố chấp, hẹp hòi...
- điền đậu 田竇: cày xới, đào bới ruộng vườn.
- khuynh đoạt 傾奪: áp đảo để giành giật cướp đoạt...
- hỗ  互: xen kẽ nhau, đắp đổi, hai bên cùng thay đổi, giúp nhau...
- phiên phúc 翻覆: tráo trở, lật lọng, phản phúc...
- giao đạo 交道: đường đi tiếp giáp nhau, kề cận con đường đi...
- phương hiểm hi 方險巇: những hướng đi hẹp, trắc trở, nguy hiểm...
- nhiên nặc 然諾: bằng lòng như thế, ưng chịu, đồng ý, ưng cho....
- trương trần 張陳: phô bày, khoe khoang đã lâu năm...
- tiêu chu 蕭朱: tiêu: cây ngãi, vắng vẻ, tiêu điều....; chu: màu son đỏ, nhà sơn đỏ của các vua quan bên Trung Hoa xưa để phô bày sự quyền quý, giàu sang. Chỉ những nơi quyền quý giờ đã trống vắng, quạnh hiu. Đây có lẽ Lý Bạch nói đến sự thăng trầm của những kẻ quyền quý như Đường Huyền tông và Dương Quý phi cùng các quan lớn nhỏ trong triều phải rời kinh thành xa hoa để chạy giặc An Lộc Sơn...
- tinh ly 星離: rải nhỏ ra và phân tán khắp nơi...
- vinh kha 榮柯 : cành cây tươi tốt.
- thủ khô trì 守枯池: chờ đợi ao bị khô hạn, cạn nước...  
- ta ta 嗟嗟: xót xa than thở...
- cần vấn 勤問: ân cần hỏi thăm...

(Lần đến: Thơ Lý Bạch bài 63, 64 và 65)

Dương Anh Sơn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét