LỄ HỘI TƯỞNG NHỚ HAI BÀ TRƯNG
Minh Phúc
Lễ hội đền Hai Bà Trưng được tổ chức nhằm tưởng nhớ hai vị nữ tướng hào kiệt, những người đã làm rạng danh cho truyền thống anh hùng bất khuất của phụ nữ Việt Nam từ bao đời nay.
Vài năm trở lại đây, công luận Hà Nội, bị một số tờ báo có ý xấu, đưa tin sai lệch, đã ồn ào trước vụ việc gọi là “Đền Hai Bà”[1]. Tôi sẽ không quay lại những ký ức buồn về một giai đoạn rất may là đã qua, khi mà những kẻ mị dân mưu toan bóp méo những ý tốt của ngài Đốc lý trong mắt người dân thủ đô. Tôi nhắc lại đơn giản rằng, người ta đã nói với dân tộc tốt đẹp này về mọi thứ, về “Chủ nghĩa Tự do”, về “Chủ nghĩa Dân tộc", về sự Áp bức, về sự Độc đoán, về Chế độ Chuyên chế và những lời đao to búa lớn trích dẫn từ kho ngôn từ của tất cả những kẻ mơ mộng của thời đại. Nhưng người ta đã bỏ qua một điều duy nhất, đó là nói về “Đền Hai Bà”, về những ký ức hào hùng mà nó gợi lại và về những ý nghĩa thực sự mà ta có thể rút ra từ lễ hội lâu đời được tổ chức trong khuôn viên của nó. Tôi sẽ cố gắng bù đắp lỗ hổng đáng tiếc này bằng bài viết ngắn gọn về biểu tượng mà ban biên tập có ý định lồng ghép trong số tạp chí phục vụ con em của đông đảo độc giả An Nam.
Lễ hội Hai Bà này được tổ chức vào ngày mùng 06 tháng 02 âm lịch hàng năm tại nhiều đền thờ, trong đó nổi tiếng nhất là ngôi đền nằm ở tỉnh Sơn Tây và một ngôi đền khác ở địa phận thành phố Hà Nội (làng Đồng Nhân cũ).
Đám đông trước đền Hai bà Trưng (tháng 3 năm 1942)
Dưới đây là câu chuyện về hai nữ anh hùng mà hậu thế đã lưu giữ những ký ức rất thành kính:
1. Từ năm 111 TCN, sự thống trị của Trung Hoa đè nặng lên đất nước Việt Nam[2]. Ngoại trừ vài Thái thú nổi tiếng, thấm nhuần chủ nghĩa nhân văn Nho giáo và được hậu thế phong là ân nhân (đó là tinh thần công lý của người An Nam), thì các quan cai trị người Hoa đều là những kẻ cường quyền tham lam và vô liêm sỉ với sự áp bức không thể chịu nổi.
Đặc biệt là dưới thời nhà Hán, khoảng năm 39 sau Công nguyên, chính quyền Trung Hoa trở nên vô cùng hà khắc. Thái thú Tô Định nổi tiếng là tàn bạo: hắn gieo rắc nỗi kinh hoàng khắp vùng nông thôn, khiến các Lạc tướng và dân chúng phẫn nộ. Tô Định thẳng tay đàn áp các cá nhân có phần nổi bật và dập tắt mọi khát vọng công lý lóe lên từ người dân.

Voi chiến của Hai Bà Trưng
Theo lệnh của Thái thú, hàng nghìn nông dân bị đày ra biển hoặc lên núi để tìm ngọc trai, mai rùa, sừng, ngà voi và các sản vật quý khác mà hắn bán sang Trung Hoa với giá cao.
2. Năm 39 sau Công nguyên, một vị quan người An Nam tên là Thi Sách, phẫn nộ trước những bất công và đau buồn trước cảnh khốn cùng mà nhân dân phải chịu đựng, đã gửi đơn lên Thái thú yêu cầu những cải cách có lợi cho dân chúng để cứu họ khỏi “nước sôi lửa bỏng”.
Thái thú Tô Định cho lính bắt ông và chặt đầu ngay lập tức.
3. Vợ của Thi Sách tên là Trưng Trắc và em gái bà - Trưng Nhị thề sẽ trả thù cho ông và giải phóng nhân dân Việt Nam khỏi ách chuyên chế tàn bạo của Tô Định. Nhờ niềm tin có sức lan tỏa rộng rãi, Trưng Trắc đã thành công chiêu mộ 27 chiến binh từ năm gia đình trong làng theo mình đấu tranh. Phong trào dần phát triển khắp Bắc Kỳ và cuộc khởi nghĩa thu hút cả người Mán và người Thượng. Chỉ trong vài tháng, Trưng Trắc và Trưng Nhị đã tập hợp được 80.000 nghĩa quân sẵn sàng chiến đấu ngay từ hiệu lệnh đầu tiên.
4. Lệnh khởi nghĩa được ban hành vào ngày 06 tháng giêng âm lịch. Hai Bà lập bản doanh tại châu Diên (nay là tỉnh Vĩnh Yên). Bằng việc bố trí khéo léo bãi Tràng Sa (sông Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên), Hai Bà đã tập hợp được lực lượng. Trên lưng voi, Hai Bà tiên phong đi đầu, nhanh chóng tấn công về hướng Liên Châu, đại bản doanh của Thái thú.
Cuộc đột kích đã thành công. Tô Định hoảng hốt tháo chạy.
Thành công đầu tiên này đã khơi dậy lòng phấn khởi của người dân Việt Nam, những người đã tự nguyện gia nhập lực lượng của hai nữ anh hùng và đánh đuổi những kẻ thống trị Trung Hoa. Hai Bà chiếm được sáu mươi lăm thành trì.
5. Trưng Trắc lên ngôi, xưng là Trưng Vương, đóng đô ở Mê Linh (phủ Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên) và mở đầu kỷ nguyên độc lập đầu tiên của nước Việt Nam.
6. Hán Quang Vũ Đế lo sợ trước sức mạnh của Trưng Vương nên ra lệnh viễn chinh trấn áp. Năm 42, ông ta cử lão tướng Mã Viện, lúc đó đã bảy mươi tuổi, làm chỉ huy quân đội. Quân tập trung ở Pakhoi, đã sẵn sàng lên thuyền. Nhưng vì Lâu thuyền tướng quân Đoàn Chí đột ngột qua đời nên Mã Viện quyết định dẫn quân đi đường bộ. Quân nhà Hán được huấn luyện bài bản. Vì vậy cuộc chinh phục không mấy khó khăn. Mã Viện dễ dàng tiến quân, xuyên qua đồng bằng, tới vùng lân cận Mê Linh.
7. Một trận chiến lớn nổ ra giữa quân Mã Viện và quân của Hai Bà. Sau những trận chiến cam go, quân nhà Hán vấp phải thất bại cay đắng và buộc phải rút lui về bờ Hồ Lớn [Hồ Tây].

Hai cô gái đội lễ
Hán Quang Vũ Đế phái gấp 50.000 quân sang tiếp viện. Bị lấn át về quân số, quân của Hai Bà bị tàn sát và chạy trốn trong tình trạng hỗn loạn. Trưng Trắc và Trưng Nhị tạm lấy lại được Mê Linh. Lo sợ sự khắc nghiệt của mùa hè, Mã Viện cho quân nghỉ ngơi. Mùa thu năm 43, ông ta tiếp tục tấn công, bằng xảo kế, ông ta đã thành công dụ quân An Nam đến Cẩm Khê (tỉnh Sơn Tây gần sông Đáy), và tiêu diệt.
Không muốn tiếp tục sống trong cảnh hỗn loạn, Hai Bà trẫm mình tại cửa Sông Hát ở hợp lưu Sông Đáy và Sông Hồng. Trưng Trắc năm ấy 29 tuổi.
Một ngôi đền được xây dựng tại chính nơi hai nữ anh hùng tuẫn tiết. Một ngôi đền lớn và nổi tiếng khác là “Đền Hai Bà”, được xây dựng vào thế kỷ 12, dưới triều vua Lý Anh Tôn, trên địa phận làng Đồng Nhân, gần Lò mổ Hà Nội. Truyền thuyết kể rằng, Hai Bà đã biến thành những bức tượng đá dạt vào bờ sông Hồng đối diện với ngôi làng này. Những cư dân đã thành kính dựng đền thờ ở đó.

Đám rước của học sinh trước đền Hai Bà Trưng (tháng 3 năm 1942)
Bị hư hại do lũ lụt, ngôi đền đã được xây dựng lại phía sau con đê của làng Hương Viên. Đó là đền Hai Bà nổi tiếng được các bà vãi trông coi. Ở đó ta có thể chiêm ngưỡng bức tượng của hai nữ chiến binh, Trưng Trắc trong trang phục màu vàng và Trưng Nhị trong trang phục màu đỏ.
Từ nhiều thế kỷ, hàng năm vào ngày mùng 06 tháng 2 âm lịch, chính tại ngôi đền này, dòng người hành hương đổ về đây để tưởng nhớ hai vị nữ anh hùng, những người đã hy sinh để giải phóng đất nước khỏi chế độ chuyên chế và bất công, giống như thánh Jeanne d'Arc của nước Pháp[3].
Minh Phúc - Lược dịch từ bài viết: La Fête des “Jeanne d’Arc d’Annam” Trung-Trac et Trung-Nhi của tác giả Jean François đăng trong cuốn TC826 “Indochine hebdomadaire illustré 1942 - Trung tâm Lưu trữ quốc gia I.
[1] Có thể tác giả muốn nói đến việc đấu tranh bảo vệ cảnh quan quanh Đền Hai Bà. Xem thêm tại: https://www.archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/cau-chuyen-bao-ve-canh-quan-xung-quanh-den-tho-hai-ba-trung-thoi-phap-thuoc.htm - BT.
[2] Các từ "Việt Nam" trong bài viết được giữ như trong nguyên văn - BT.
[3] Nữ chiến binh của nước Pháp, người đã có công đưa nước Pháp thoát khỏi miệng vực thất bại trong cuộc Chiến tranh Trăm năm. Jeanne bị xử tử vì tội dị giáo, nhưng 500 năm sau đã được Vatican phong Thánh - BT.
Minh Phúc


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét