Thứ Bảy, 11 tháng 9, 2021

Nữ Trung Sĩ Nicole Gee - Phụ Nữ Trung Đông - Thiếu Nữ Việt Nam

 

Marine Sgt. Nicole Gee calms an infant during an evacuation at Hamid Karzai International Airport in Kabul, Afghanistan, on Aug. 20 


Tạp Ghi - NỮ TRUNG SĨ NICOLE GEE - PHỤ NỮ TRUNG ĐÔNG - THIẾU NỮ VIỆT NAM*
Điệp Mỹ Linh

Trước khi cuộc rút quân tại Afghanistan chấm dứt, nhiều phương tiện truyền thông đưa ra một hình ảnh rất nhân ái của nữ trung sĩ Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Hoa Kỳ, trong giai đoạn kết thúc cuộc chiến tại Afghanistan.

Tôi muốn đề cập đến tấm hình của nữ trung sĩ TQLC Nicole Gee – với cử chỉ đầy thương yêu như người Mẹ – đang bế và dỗ cho em bé tỵ nạn bớt sợ hãi, tại phi trường Kabul, Afghanistan. Tấm ảnh này được chính Nicole Gee chuyển về cho gia đình của Cô, tại Hoa Kỳ, với dòng chữ “I love my job”.

Tấm ảnh này không ghi ngày, nhưng được trang twitter của US Department of Defense đăng, Aug. 20/2021.

Không ngờ, Aug. 28/2021, trung sĩ Nicole Gee – 23 tuổi, thuộc 24th Marine Expeditionary Unit và cũng là cư dân của thành phố Sacramento, Calif., cùng với 12 quân nhân Hoa Kỳ khác – bị tử thương trong vụ nổ bom tự sát do Islamic State in Khorasan Province, ISKP (ISIS-K) thực hiện!

Trong số 13 quân nhân Hoa Kỳ bị tử thương tại phi trường Kabul, không phải chỉ có Nicole Gee là nữ quân nhân mà còn có nữ trung sĩ TQLC Johanny Rosario Pichardo, 25 tuổi, cư dân Lawrence, Massachusetts. Nữ trung sĩ  Rosario served with the Naval Amphibious Force, Task Force 51/5th Marine Expeditionary Brigade.

Theo tin bổ túc của Zach Hester trên News19 đăng, Aug. 28, 2021 lúc 03:51 chiều CDT thì: Danh tính của 13 quân nhân Hoa Kỳ bị tử thương trong cuộc đánh bom tự sát ở phi trường Kabul, tai Afghanistan – được The U.S. Department of Defense (DOD) công bố – gồm có:

·        Marine Corps Staff Sgt. Darin T. Hoover, 31, of Salt Lake City, Utah.
·        Marine Corps Sgt. Johanny Rosariopichardo, 25, of Lawrence, Mass.
·        Marine Corps Sgt. Nicole L. Gee, 23, of Sacramento, Calif.
·        Marine Corps Cpl. Hunter Lopez, 22, of Indio, Calif.
·        Marine Corps Cpl. Daegan W. Page, 23, of Omaha, Neb. 
·        Marine Corps Cpl. Humberto A. Sanchez, 22, of Logansport, Ind.
·        Marine Corps Lance Cpl. David L. Espinoza, 20, of Rio Bravo, Texas
·        Marine Corps Lance Cpl. Jared M. Schmitz, 20, of St. Charles, Mo.
·        Marine Corps Lance Cpl. Rylee J. McCollum, 20, of Jackson, Wyo.
·        Marine Corps Lance Cpl. Dylan R. Merola, 20, of Rancho Cucamonga, Calif. 
·        Marine Corps Lance Cpl. Kareem M. Nikoui, 20, of Norco, Calif.
·        Navy Hospitalman Maxton W. Soviak, 22, of Berlin Heights, Ohio
·        Army Staff Sgt. Ryan C. Knauss, 23, of Corryton, Tenn.

Theo báo cáo của The Associated Press, 169 Afghans cũng tử thương trong vụ nổ bom tự sát này.

Điều đáng buồn hơn nữa là trong danh sách 13 quân nhân Hoa Kỳ bị tử thương tại phi trường Kabul có 05 quân nhân chỉ mới 20 tuổi. Khi New York bị ISIS tấn công, Sept-11-2001, đưa đến việc Hoa Kỳ đưa quân vào Afghanistan, 05 quân nhân này chưa được sinh ra hoặc chỉ còn là em bé!

Nữ quân nhân Hoa Kỳ – cũng như nữ quân nhân Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) – chỉ phụ trách việc văn phòng, tiếp liệu, ý tế, tâm lý chiến chứ không được trực tiếp tham chiến tại mặt trận.

Theo cựu trung tá TQLC Kate Germano, khi cuộc chiến tại Afghanistan bùng nổ – October-07-2001, với chiến dịch “Enduring Freedom” do Tổng Thống Hoa Kỳ George W Bush ký sắc lệnh, sau khi Taliban từ chối giao nộp mastermind Osama bin Laden’s al-Qaida organization – nữ quân nhân Hoa Kỳ cũng không được phép thực hiện công tác tại cổng gác.

Nhưng, khi cuộc rút quân tại Afghanistan bắt đầu, nhận thấy việc kiểm soát phụ nữ và trẻ em tại sân bay sẽ gặp nhiều trở ngại – vì phong tục và văn hóa dị biệt –  nữ trung sĩ Nicole Gee và nữ trung sĩ Johanny Rosario Pichardo tình nguyện nhận lãnh phần việc giúp đỡ và kiểm soát phụ nữ cũng như trẻ em Afghans đi qua cổng gác.

Không ngờ, hành động thiện nguyện của hai nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ này lại đưa đến kết quả quá thảm khốc và đau thương!

Bên cạnh sự cảm phục dành cho nữ quân nhân Hoa Kỳ cũng như nữ quân nhân VNCH và nữ quân nhân các nước văn minh, tâm hồn tôi lại âm thầm xót xa khi nghĩ đến thân phận phụ nữ thiếu may mắn ở Trung Đông; bởi vì, tại 18 nước bên Trung Đông, phụ nữ bị thiệt thòi rất nhiều, về mọi phương diện.

Vì thế, khi đọc bảng tin bổ túc của The Associated Press, Aug.-17-2021, lúc 12:15PM ET, tôi thầm vui, vì câu này: A Taliban spokesman promised Tuesday that the insurgents who overran Afghanistan in recent days would respect women's rights and would not exact revenge …” Niềm vui trong tôi vừa đến, chợt tan biến, khi tôi đọc câu kế tiếp: “Mujahid promised the Taliban would honor women's rights, but within the norms of Islamic law {…} He promised the insurgents would secure Afghanistan — but seek no revenge against those who worked with the former government or with foreign governments or forces…”

Tự dưng tôi cảm thấy hoài nghi và rồi hệ quả khóc hờn của những lời kêu gọi xảo trá do cộng sản Việt Nam (csVN) lập mưu để “lùa” tất cả thành phần ưu tú của miền Nam Việt Nam – không thể chạy thoát trước khi csVN cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam – vào tù, sau 30-04-1975, lại bừng sống trong hồn tôi!

Sau giây phút xúc động, tôi bình tâm và nhận ra rằng: Người csVN không những ác độc với phụ nữ miền Nam mà trong cuộc chiến, 1954-1975, người csVN cũng đã hành xử tàn ác và man rợ đối với ngay cả phụ nữ và thiếu nữ miền Bắc Việt Nam rồi!

Thật vậy! Suốt cuộc chiến, từ 1954 đến 1975, do csVN xé Hiệp Định Ba-Lê, đưa quân xẻ Trường Sơn xâm lăng miền Nam, nếu bao nhiêu ngàn trái tim của phụ nữ miền Bắc đã nát tan theo từng bước chân của người thân trong đoàn quân csVN tham tàn và háo chiến trên đường mòn Hồ Chí Minh thì phụ nữ miền Nam cũng chịu nhiều đau thương, mất mác vì người thân gục ngã trong những cuộc cường tập do csVN gây nên!

Trong khi thiếu nữ miền Nam Việt Nam – nhờ sự hy sinh vô bờ của người Lính VNCH – vẫn được sống trong thanh bình, được cắp sách đến trường, thì, không biết bao nhiêu ngàn thiếu nữ miền Bắc Việt Nam bị csVN buộc phải theo đoàn quân csVN khát máu, xẻ dọc Trường Sơn để thực hiện những công tác nặng nhọc như tải đạn, tải nhu yếu phẩm, tải nhiên liệu, lái xe vận tải, hộ lý, v.v… đề được làm anh hùng!

Trên thế giới, chỉ có những kẻ tàn ác và không có lòng nhân đạo – như người csVN – mới dùng hai chữ “anh hùng” để chiêu dụ, phỉnh gạc những em bé chỉ hơn 10 tuổi vào quân đội. Đây là bằng chứng do chính csVN phổ biến:

1.- Phó Tổng tham mưu trưởng QĐND csVN Nguyễn Trung Thu, vtướng đánh giặc từ thuở lên 10. {…}10 tuổi, Trung Thu đã tự chế mìn, lựu đạn, vũ khí đánh địch theo chiến thuật du kích. {…} Cậu bé quyết định mang 05 quả mìn bỏ vào bao mang đi gài địch. Link:
https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/vi-tuong-danh-giac-tu-thuo-len-10-103503.html

2.- Nguyễn Thị Ánh Thu, năm 14 tuổi, đã tình nguyện tham gia từ công tác giao liên, du kích xã rồi làm chỉ huy xã đội Song Thuận…Link: https://vov.vn/xa-hoi/huyen-thoai-ve-nu-anh-hung-tieu-diet-tren-100-linh-my-nguy-461262.vov

3.- Cao Thị Hương, 15 tuổi, nữ du kích đầu tiên bắn rơi máy bay Mỹ trên đất Củ Chi bằng súng bá đỏ (loại súng trường lên đạn từng viên). Chú thích này là của LĐ - Số 63 Lê Tuyết - 11:24 AM, 20-03-2015, trên báo Lao Động. Link:
http://tamlongvang.laodong.com.vn/phong-su/huyen-thoai-ban-roi-may-bay-my-bang-sung-ba-do-306675.bld

Vận tốc và cao độ của phi cơ phản lực mà bị “nữ cán bộ nhí” dùng súng trường, lên đạn từng viên, bắn hạ thì… quả thật người csVN đã thể hiện được tất cả bản chất của những em bé ngày xưa chỉ biết chăn trâu, chăn bò!

4.- Danh sách 12 “anh hùng nhí” – nhóm chữ này và danh sách “anh hùng nhí” rất dài, ngày trước được dư luận viên csVN quảng bá trên internet. Sau khi bị vài bài của người Việt di tản chỉ trích, dư luận viên csVN đã đổi thành “anh hùng trẻ tuổi” và danh sách trẻ em bị csVN lừa, đưa vào chỗ chết để được làm anh hùng đã bị rút ngắn rất nhiều; nay chỉ còn:

-* Nguyễn Bá Ngọc (1952 - 1965), 13 tuổi.
-* Dương Văn Nội (1932 - 1947), 15 tuổi.
-* Dương Văn Mạnh (1930-1944), 14 tuổi.
-* Vừ A Dính (1934-1949), 15 tuổi.
-* Kim Đồng (1929-1943), 14 tuổi, v.v…

Dưới thời VNCH, tại Saigon và các thành phố lớn, không ai lạ gì trò đánh lén của Việt cộng – tay sai rất đắc lực của csVN. Việt cộng gói kỷ mìn hoặc lưu đạn,  vào giỏ đi chợ, rồi bảo em bé đánh giày hay là em bé ăn xin, đem gói đó đến chỗ lính Mỹ đứng đón xe bus, trao cho lính Mỹ để được lính Mỹ cho “kẹo cao su” – chewing gum – rồi em bé sẽ trở thành anh hùng!

Người Mỹ, với bản tính nhân hậu, rất thích và tin tưởng trẻ em, cho nên, không những không đề phòng mà còn lấy kẹo cho em bé nữa. Thế là mìn nổ! Lính Mỹ và đứa bé Việt Nam chết không toàn thây!

CsVN đã lợi dụng sự thơ dại của trẻ em để đưa trẻ em vào chỗ chết! Thế mà người csVN và bộ đội ông Hồ Chí Minh lúc nào cũng “tự sướng”, tự ca ngợi những “chiến công huyền thoại” do các em bé chỉ hơn 10 tuổi thi hành!

Hỡi người csVN! Suốt chiều dài của dòng lịch sử cận đại, csVN đã áp dụng những thủ đoạn gian manh, lừa lọc để giết hại cả triệu triệu người đồng chủng; rồi phổ biến hình ảnh những em bé ôm súng; mấy cụ bà thêu dệt chuyện “đánh Mỹ cứu nước” và hình ảnh bi thảm có thật của không biết bao nhiêu ngàn thiếu nữ Bắc Việt mất xác trên đường mòn Hồ Chí Minh, v.v… chỉ làm cho nhân loại ghê tỡm về sự tàn ác và dã man của người csVN chứ những hình ảnh đó không thể gây được chút thiện cảm nào trong lòng người!

Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi!

Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!

ĐIỆP MỸ LINH

*.- Bài này do sự gợi ý của nhà báo Vương Trùng Dương.

Thứ Năm, 9 tháng 9, 2021

Trường Thi Chôn Nhau Cắt Rốn Đoạn 24

Trường Thi CHÔN NHAU CẮT RỐN Đoạn 24

LỜI NGỎ:

Những địa danh ở Tây Nguyên của đồng bào thiểu số khi phiên âm ra tiếng Việt có chút khác nhau ví dụ như A Sao thì có sách viết là Ia (ia) Sao. Ở đây tác giả dùng A thay vì Ia mong bằng hữu thông cảm.

HUỲNH DUY PHỐI 05 - 9 - 2021.

Trân trọng 

NHHN 




Trường Thi Chôn Nhau Cắt Rốn Đoạn 23

 



Năm 2022 - Một Điều Kỳ Lạ Thích Thú

 


Năm 2022 - MỘT ĐIỀU KỲ LẠ THÍCH THÚ
Sưu tầm 

Điều kỳ lạ, sang năm (2022) tất cả mọi người trên thế giới sẽ bằng tuổi nhau. Tất cả đều bằng năm 2022.

- 1.000 năm mới xảy ra một lần. 

Năm tới tuổi của bạn cộng với năm sinh của bạn sẽ là 2022 cho tất cả mọi người. 

Ví dụ: nếu năm sau bạn 55 tuổi và bạn sinh năm 1967, thì tổng số sẽ là 2022.

Lạ lắm, ngay cả các chuyên gia trên thế giới cũng không giải thích được, các bạn cứ tính xem có phải năm 2022 không nhé.

Thật là một ngàn năm chờ đợi, không còn lần sau đâu! Thực sự chính xác! 

Sưu tầm



Ảnh Hưởng Đạo Phật Trong Đoạn Trường Tân Thanh - Nguyễn Du Và Tác Phẩm

 


ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO PHẬT TRONG ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH - PHẦN MỘT VỀ NGUYỄN DU
Thầy Dương Anh Sơn


CHƯƠNG I 

NGUYỄN DU VÀ TÁC PHẨM 

MỤC II: 

VĂN NGHIỆP CỦA NGUYỄN DU

Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du được đánh dấu qua các tác phẩm Hán văn và được biết đến nhiều hơn cả là các tác phẩm quốc âm còn lan truyền cho đến ngày nay mà Truyện Kiều (tức Đoạn Trường Tân Thanh) là một điển hình.

Đương thời các sĩ phu rất khen phục văn tài lỗi lạc của năm danh sĩ mệnh danh là “An Nam Ngũ Tuyệt” trong đó, Nguyễn Du và cháu là Nguyễn Đạm đã chiếm hai chỗ rồi. (Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện, Tang Thương Ngẫu Lục). Điều đó cũng phản ánh phần nào văn tài và xác định văn nghiệp Tố Như. Tuy nhiên, để có thể hiểu được phần nào văn nghiệp Tố Như, không gì hơn là lần lượt đi tìm hiểu các tác phẩm của ông. 

TIẾT 1: TÁC PHẨM HÁN VĂN VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẠO PHẬT

A.- TÁC PHẨM HÁN VĂN

Khi tìm hiểu Nguyễn Du, nhất là ĐTTT tức Truyện Kiều, hầu như người ta chỉ chú ý đặc biệt đến các tác phẩm quốc văn mà xao lãng những tác phẩm viết bằng Hán văn của tiên sinh. Điều này một phần là do các tác phẩm chữ Hán ít được phổ biến rộng rãi so với các tác phẩm quốc văn của Tố Như nên chưa được quan tâm đúng mức.

Trong khoảng thời gian 1920 trở về sau, có rất nhiều học giả như các ông: Bùi Kỷ, Lê Thước, Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh… đã ra công sưu tập được một phần lớn và cho công bố lẻ tẻ đăng rải rác trên các sách báo bấy giờ. Một phần nào đó, chúng ta đều công nhận cố gắng của Phạm Quỳnh khi đề xướng phong trào ca tụng Truyện Kiều. Nhờ thế, một số tác phẩm khác nhau của Nguyễn Du đã được lưu ý và phát hiện vào khoảng năm 1931 trên tạp chí Nam Phong. Đồng thời, trước đó các ông Lê Thước và Phan Sĩ Bàng đã xuất bản vào năm 1924 “Truyện cụ Nguyễn Du”, đến năm 1942, ông Đào Duy Anh cũng cho xuất bản “Nguyễn Du Văn Họa Phổ” [1] và năm 1943 “Khảo luận về Kim Vân Kiều”. Trong những sách xuất bản này, tác giả chỉ công bố một số ít thơ Hán văn mà thôi.

Khoảng thời gian sau này, thỉnh thoảng người ta lại thấy xuất hiện một số thơ chữ Hán của Tố Như đăng rải rác trên các báo bên cạnh những bài thơ đã được công bố từ lâu. Năm 1966, nhà thơ Thi Vũ ở Paris đã sao lục được thêm một số lớn thơ chữ Hán nữa và đã gửi cho nhà thơ Quách Tấn cả thảy 245 bài (“Thanh Hiên thi tập” 75 bài, “Nam Trung tạp ngâm” 40 bài và Bắc Hành tạp lục” 130 bài). Mặc dầu số thơ này chưa phải toàn bộ là thơ chữ Hán của Nguyễn Du, nhưng nhà thơ Quách Tấn cho đến thời gian này (1973) mới chỉ diễn dịch được 104 bài thơ và cho xuất hiện trong số “Tố Như Thi” [2]. Chúng ta chờ đợi những công bố mới, dù ít dù nhiều sẽ là những tài liệu quí báu giúp ít cho việc khảo cứu Nguyễn Du và đặc biệt Đoạn Trường Tân Thanh. Mặt khác, việc hiệu đính của tác phẩm chữ Hán này cũng cần được chú trọng. Chúng ta mong đợi công trình của các bậc túc nho vậy. Trong thời gian này, ngoài Bắc các ông Trương Chính, Nguyễn Thạch Giang cũng có những công trình rất quan trọng.

Thơ chữ Hán của Tố Như tương truyền xuất phát từ ba tập thơ Hán văn:

1/ Thanh Hiên Tiền Hậu Tập       (青軒前後集)

2/ Nam Trung Tạp Ngâm             (南中雜吟)

3/ Bắc Hành Tạp Lục                   (北行雜録)

Bên cạnh còn có tập Lê Quý Kỷ Sự (黎季紀事) tương truyền cũng là tác phẩm Hán văn của Nguyễn Du ghi chép những sự việc xảy ra từ cuối đời nhà Lê và trong cuộc đời làm quan của ông. Cho tới ngày nay người ta vẫn chưa biết rõ về tác phẩm thứ tư này, ngoài những thi phẩm chữ Hán kể trên.

Phân tích ba tập thơ chữ Hán, chúng ta nhận thấy Tố Như đã làm ra trong những thời kỳ khác nhau. Đồng thời chân nhận phần nào tâm trạng và tư tưởng của tiên sinh hầu như có thể soi sáng cho Truyện Kiều. Theo đó, chúng ta có thể tạm phân định như sau:

1./- Thanh Hiên Tiền Hậu Tập là những bài thơ làm ra từ trước và trong thời kỳ làm quan. Căn cứ vào việc tìm hiểu và phân tích ý tưởng của bài thơ nơi tập này, người ta thấy rõ Nguyễn Du tiên sinh đã sáng tác qua ba giai đoạn:

- Giai đoạn tha hương nơi đất khách, tiêu dao ở núi Hồng Lĩnh sông Lam (1786-1795). 

- Giai đoạn trở về sinh sống ở quê nhà (1796-1802). 

- Giai đoạn ra làm quan với nhà Nguyễn (1802-1820).

Tuy nhiên, sự phân định này không có gì là chắc chắn cả; các bài thơ chữ Hán thâu thập rải rác đã được xếp loại dựa vào phần lớn ý tưởng và các địa danh mà tiên sinh đề cập mà thôi. Chúng ta vẫn chưa thấy ai nêu rõ sự kiện này.

Dầu vậy, nhìn một cách tổng quát, chúng ta nhận thấy phần lớn những tư tưởng về đạo, những ý nghĩa về cuộc đời và thiên nhiên, những tình cảm dành cho bạn bè, gia đình và nhất là mối tâm sự chất ngất của tiên sinh hầu như đều nằm ở thi tập này. Mặt khác, ngay tên gọi của thi tập cũng cho thấy phần nào ý nghĩa của các bài thơ bên trong.

2./- Nam Trung Tạp Ngâm là những bài thơ được sáng tác trong thời kỳ làm quan ở kinh đô Huế (1805-1808) và tại Quảng Bình (1809-1812) (vùng đất Nam Trung là địa danh chỉ giang sơn cũ trước kia của nhà Nguyễn nằm từ Hoành Sơn trở vào Nam, Bắc Hà thuộc vua Lê, chúa Trịnh nằm từ Hoành Sơn trở ra).

Phần lớn những bài thơ trong tập Nam Trung được công bố đã phản ánh tâm trạng của tiên sinh nơi chốn quan trường. Tiên sinh cảm thấy như bị giam hãm tù túng trong đời sống đầy sự tranh đua phiền toái này. Do đó tiên sinh đã tỏ vẻ luyến tiếc nhớ nhung về một thời thong dong “nghêu ngao vui thú yên hà” của ngày tháng cũ. Dù muốn dù không, chúng ta cũng phải công nhận rằng thời kỳ làm quan của Nguyễn Du tuy hanh thông, nhưng tiên sinh có vẻ “bất đắc chí” là một điều hẳn nhiên. Những bài thơ trong tập này nếu được xét kỹ sẽ chứng thực sõ điều này.

3./- Bắc Hành Tạp Lục gồm các bài thơ làm trong thời gian đi sứ triều cống Trung Hoa (1813-1815). Sắp xếp theo các địa danh và đầu đề của những bài thơ này, chúng ta sẽ vạch được con đường đi của ông từ kinh đô Phú Xuân cho đến khi sang Tàu và trở về. Đồng thời, con đường đi này cũng thể hiện phần nào tâm thức của tiên sinh biến chuyển theo từng chặn hành trình.

Từ Kinh đô đến thành Thăng Long và qua đến Bắc Kinh chất đầy bao nỗi ưu tư, khắc khoải về cuộc đời. Khi nhiệm vụ hoàn tất, trên đường về ghé đến Nam Kinh và dưới chân “Phân Kinh Thạch Đài”, tiên sinh đã chứng ngộ được diệu nghĩa, giải đáp được nỗi lo nghĩ mà kinh điển và cuộc đời đem lại. Từ đây, cuộc hành trình của tiên sinh đã phần nào thoải mái hơn, tâm thức của tiên sinh cũng đã đổi khác.

B.- ẢNH HƯỞNG TƯ TƯỞNG ĐẠO PHẬT

Như đã trình bày trong các phần trên, chúng ta đã thấy dấu vết đạo Phật trong các thi phẩm của Nguyễn Du tiên sinh khá đặc biệt. Chất liệu của loại đạo Phật này vẫn dựa vào đời sống, dựa vào cảnh vật thiên nhiên, nhưng đã mang một phong vị mới và dưới một lăng kính khác. Việc tìm hiểu về đạo Phật trong các thi phẩm này, phải với một lối nhìn thật cởi mở và đứng đắn người ta mới dễ dàng chấp nhận nó. Đặc chất của loại đạo Phật ấy không còn nguyên vẹn và khô khan của những nguyên lý hay những học thuyết nguyên thủy, nhưng đã biến thái dưới chiều hướng có vẻ pha trộn dấu vết của Lão Trang – hay nói cho đúng hơn – là dấu vết của Thiền. Thiền là gì? Đó là câu hỏi ngàn đời không thể trả lời được nếu không bước vào nguồn suối của nó. Và Nguyễn Du tiên sinh trong hầu hết thi ca Hán văn đã lấy đối tượng của cảnh vật thiên nhiên đổi thay bốn mùa, của trời trăng mây nước hòa với ý nghĩ của mình để tạo thành một loại thơ nhuốm màu sắc đạo giáo. Đây là một thứ “tôn giáo của nghệ sĩ” (The religion of Artist) – nói theo một tác phẩm của Tagore – nên các bài thơ này là một bức tranh thủy mạc chấm phá đôi nét những tâm sự gửi vào trang thơ như một niềm mơ ước trở về cố hương:

“… Hà năng lạc phát quy lâm khứ,

Ngọa thính tùng phong hưởng bán vân”

(Tự thán, Bài 2) [3]


        

        

(   )

Tạm chuyển lục bát:

Làm sao xuống tóc vào rừng,

Nghe thông lộng gió nửa chừng tầng mây

(Than thân – Bài 2)

hoặc:

“… Dao ức gia hương thiên lý ngoại,

Trạch xa, đoạn mã quý đông lân”

(Mạn hứng, Bài 1) [4]


  

(漫興)

Xa nhớ quê hương ngàn dặm, thẹn với người hàng xóm cỡi ngựa đủng đỉnh.

Tạm chuyển lục bát:

Nhớ nhà ngàn dặm xa xôi,

Xóm đông xe ngựa rong chơi thẹn lòng

(Mạn hứng, Bài 1)

hoặc:

“… Vị hữu văn chương sinh nghiệt chướng

Bất dung trần cấu tạp thanh hư

Tam lan song hạ ngâm thanh tuyệt

Điểm điểm tinh thần du thái sơ”        

(Ngọa bệnh, Bài 1)

未有

 

 

(臥病其一)

Chưa có chuyện văn chương sinh nghiệt chướng, không để bụi bặm lẫn vào chốn trong sạch. Dưới của sổ có ba khóm lan, bặt tiếng ngâm. Tinh thần dần dần về cõi ban sơ.

Tạm chuyển lục bát:

Chưa hề sinh lụy văn chương

Cõi không trong lắng chẳng vương bụi đời               

Bên lan ba khóm ngâm vời ,                                                     

Tinh thần dần đến cõi trời ban sơ.

 (Nằm bệnh, Bài 1)

hoặc:

“… Long Vĩ giang đầu ốc nhất gian ,       

U cư sầu cực hốt tri hoan

Đạt nhân tâm cảnh quang như nguyệt

Xử sĩ môn tiền thanh giả san…”

(Tạp ngâm, Kỳ nhị)

 山

(雜吟 其)

(Đầu sông Long Vĩ một gian nhà, ở trong nơi vắng vẻ sầu cực độ bỗng thấy vui. Cõi lòng của kẻ đạt nhân sáng như trăng. Trước của ngõ người xử sĩ là sắc núi xanh … ). [5]

Tạm chuyển lục bát: 

Đầu sông Long Vĩ một nhà,

Quá buồn ở ẩn chốc đà hân hoan.

“Đạt nhân” lòng sáng như trăng

Trước nhà người ẩn giăng hàng núi xanh.

(Tạp ngâm – Bài 2)

Nhưng có lẽ rõ nhất là bài "Đạo Ý". Chúng ta sẽ thấy quả thật là Tố Như đã thấu hiểu lẽ thiền:

Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh,  

Tỉnh thủy vô ba đào.

Bất bị nhân khiên xả, 

Thử tâm chung bất dao.   

Túng bị nhân khiên xả,       

Nhất dao hoàn phục chỉ.    

Trạm trạm nhất phiến tâm, 

Minh nguyệt cổ tỉnh thủy.” [6]


 

(道意)

Tạm chuyển lục bát: 

Giếng xưa trăng sáng soi vào,

Nước kia sóng chỉ gợn trào giếng đây

Chẳng ai trói buộc dắt bày

Không làm lay động lòng này xôn xao 

Dẫu ai dẫn dắt đi nào

Lao xao rồi lại trở vào lắng trong

Sâu dày cả một cõi lòng

Giếng xưa vằng vặc sáng vầng trăng soi.
(Nói ý mình)

Thêm vào đó, một số bài thơ khác, chẳng hạn bài “Đề nhị thanh động, Tố Như tiên sinh đã bày tỏ cõi lòng mình trước vũ trụ thiên nhiên; tâm thức của tiên sinh nơi đây hoàn toàn mang phong khí của đạo thiền, hiểu đạo thiền như là tinh hoa của đạo Phật và trong kích thước của những nhà nghệ sĩ:

ĐỀ NHỊ THANH ĐỘNG

Bàn cổ sơ phân bất ký niên

Sơn trung sinh quật, quật sinh tuyền

Vạn ban thủy thạch thiện đại xảo

Nhất lập càn khôn khai tiểu thiên

Mãn cảnh giai không hà hữu tướng

Thử tâm thường định bất ly thiền

Đại sư vô ý diệc vô tận 

Phủ thán thành trung đa biến thiên. [7]


題二青洞

滿

Tạm chuyển lục bát: 

Trước bàn cổ chẳng nhớ năm,

Hang nằm lòng núi, suối ngầm động sâu.

Lớp lang đá nước khéo sao!

Càn khôn một hạt mở thâu khoảnh trời.

Là không tướng trạng đâu rồi?

Lòng này thường định chẳng rời thiền tâm

Bao la lẽ Phật ý KHÔNG,

Biết bao thay đổi thành trong ngậm ngùi.

(Đề lên ở Nhị Thanh động)

Toàn cảnh đều là không nào đâu là hình tướng? Lòng này thường định không rời Thiền… Ở giữa sự khéo léo của hóa công ra tay xếp đặt cảnh trí vũ trụ, lòng tiên sinh đã nhận thức được tính chất vô thường của sắc tướng xuyên qua sự chứng nghiệm của cái tâm đã luôn định và không rời Thiền.

Nhiều bài thơ chữ Hán khác cũng cho thấy phong vị thiền, nhưng phạm vi tiểu luận nhỏ hẹp không cho phép đào sâu hơn. Dầu vậy, một vài nét phác họa về ảnh hưởng thiền trong thơ chữ Hán của Tố Như đã phần nào cho thấy tâm trí và con người tiên sinh. Vả lại, thơ là để cảm nghiệm nhiều hơn là để phân tích, để trực ngộ hơn là suy diễn dài dòng nên khó có thể trình bày đâu là phong vị thiền. Định nghĩa được sẽ không còn là thiền, sẽ không thấy được ý tứ mà thơ chất chứa. Như Nguyễn Du đã đề cập trong bài thơ trên: "Lòng này thường ĐỊNH vẫn không rời THIỀN" (Thử tâm thường định bất ly thiền). Chất thiền của Tố Như là gì? Có ích gì không khi chúng ta bàn thêm về những gì mà một thi sĩ đã trình bày, nhất là những bài thơ nói về một cõi thanh hư nào đó như một hạnh ngộ. Chỉ những ai uống trà mới cảm nghiệm được hương vị của tách trà như thế nào và chỉ những ai “qua cầu” nhìn lại mới thấu rõ đâu là nỗi đoạn trường mà mình từng trải thôi! 

* * * * * 

Chúng ta yêu mến và trân trọng Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kiều) vì rất nhiều cái hay, cái đẹp chứa đựng trong đó, nhất là nghệ thuật tả cảnh, tả tình, cách sử dụng từ ngữ, nghệ thuật phô diễn tư tưởng đạo Phật… đã đạt đến đỉnh cao trong nền thơ ca Việt Nam. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở ĐTTT mà không đi sâu vào “Thơ Chữ Hán” của Nguyễn Du quả là một thiếu sót lớn trong cách nhìn về một tác giả có tầm ảnh hưởng rộng khắp như tiên sinh. Muốn hiểu về con người, tư tưởng và những suy nghĩ của Tố Như, cũng như những bước đường đời của ông, “Thơ Chữ Hán” là một cánh cửa mở ra, soi rõ tài năng và nhân cách lớn của một bậc thi hào. Đi từ Thanh Hiên Tiền Hậu Tập, qua Nam Trung Tạp Ngâm cho đến Bắc Hành Tạp Lục đều chứa đựng những dấu ấn để ta thấy rõ và sâu hơn về Nguyễn Du. Tính cách của một bậc thi hào theo đúng với nghĩa của nó như Tố Như tiên sinh sẽ cho chúng ta thấy được nét tài hoa, sự thâm thúy không kém gì các bậc thi hào như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương Duy, Lý Thương Ẩn… v.v... của thơ ca Trung Hoa. Nghệ thuật làm thơ Đường cũng như biết bao tư tưởng về nhân sinh, về đạo Phật và nhất là thân phận con người trong “Thơ Chữ Hán” đã cho thấy một tầm vóc lớn lao của một nhà thơ tài hoa như Nguyễn Du .

Có thể nói rằng, chúng ta đọc “Thơ Chữ Hán” để thấy được, hiểu hơn về nhân cách, tài năng của Nguyễn Du và đọc Truyện Kiều để chân nhận về những nét tài hoa ấy. 



[1] Xem Quách Tấn, S.đ.d, trang x. (trang 10) 

[2] Xem Quách Tấn, S.đ.d, trang x (trang 10)  

[3] Quách Tấn, S.đ.d, tr. 33, 43, 70.        

[4]  Quách Tấn, S.đ.d, tr. 33, 43, 70.    

[5] Quách Tấn, S.đ.d, tr. 75, 79.      

[6] Quách Tấn, S.đ.d, tr. 75, 79.       

[7] Nguyễn Đăng Thục, S.đ.d, tr. 289-290.

(Lần đến: MỤC II , TIẾT 2: Tác phẩm chữ Nôm và ảnh hưởng tư tưởng đạo Phật)  


Thứ Tư, 8 tháng 9, 2021

Tự Thuật

 


Quê Mẹ

 

 

   QUÊ MẸ
   Đỗ Trường Giang


   Chiều nắng rớt trên sông
   Vui đùa theo con sóng
   Quê tôi đây đang vào mùa gió lộng
   Hàng tre buồn cong quằn ngọn nhớ thương

   Bao năm qua vai áo rũ mòn sương
   Từ dạo bước lên đường thân viễn khách
   Bỏ bến ra đi con đò đời đã tách
   Chưa lần về cập lại bến sông xưa

   Có những đêm dài
   Ngồi ngắm ánh sao thưa
   Buồn man mác
   Lệ như vừa rơi trên khoé
   Ngâm khe khẽ
   Những dòng thơ đất Mẹ
   Nghe như hồn tan nhẹ giữa trời sương

   Hồn quê ơi sao lòng vẫn vấn vương
   Từng khóm trúc từng con đường tuổi trẻ
   Ai xa quê không nhớ về đất Mẹ
   Nhớ bờ tre
   Thương tiếng Mẹ ru hời
   Nghe sao lòng cứ mãi chơi vơi
   Theo điệu hát à ơi chiều nắng ấm

   Quê tôi đó
   Mây chiều xanh thăm thẳm
   Con sông buồn trải rộng nước reo cười
   Cuộn theo dòng tim tím lục bình trôi
   Con gió nhẹ lả lơi đùa cánh lá

   Quê tôi ơi sao lòng nhung nhớ quá
   Kiếp tha hương xứ lạ mấy thu rồi
   Giữa tình người ngày càng trắng hơn vôi
   Nghe thương nhớ một trời xưa quê Mẹ

   Đỗ Trường Giang

   (Người Xứ Thủ)

   July 31, 2021