Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2023

Câu Chuyện Của Một Người Chị

 

Hoa Thu 1951. Ảnh từ Vienkhach.free.fr

CÂU CHUYỆN CỦA MỘT NGƯỜI CHỊ
Viễn Khách 

Như là một cuốn truyện hư cấu, nhưng lại là một truyện thật, và câu chuyện này đã kéo dài bẩy chục năm.

Chị sinh năm 1926, năm nay đã 95 tuổi. Chị hơn tôi 10 tuổi. Với từng đó tuổi, vào những quãng thời gian đó, chị đã đi vào những biến cố xa hơn tôi rất nhiều.

Chúng tôi đều sinh ra trong thời nước Việt Nam còn có vua, nhưng lại là thuộc địa của người Pháp. Tôi nhớ lại thời đó là một thời thanh bình. Rồi chúng tôi đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh triền miên suốt hơn ba mươi năm trời.

Đệ Nhị Thế Chiến 1939-45, quân Nhật tràn vào Đông Dương lật đổ người Pháp. Trên trời thì máy bay Mỹ dội bom xuống doanh trại của lính Nhật và phá hủy các trục lộ giao thông. Cùng chứng kiến cảnh hai triệu người chết đói ở các làng quê và một số đông đã lần về thành phố Hà Nội mong có miếng ăn, nhiều người nằm chết la liệt hàng ngày trên các đường phố. Nguyên do lính Nhật cấm nông dân trồng lúa và phải trồng các cây phục vụ cho kỹ nghệ chiến tranh của họ.

Thế chiến chấm dứt, cả một sư đoàn Quốc quân Tầu chuyển sang giải giới quân Nhật. Rồi Cộng sản đội lốt Việt Minh lợi dụng tình thế cướp chính quyền, phá bỏ chế độ quân chủ, diệt trừ các đảng quốc gia đối lập. Người Pháp quay lại Đông Dương, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, kéo dài nhiều năm 1946-54. Pháp thua trận Điện Biên Phủ, rút khỏi Việt Nam. Đất nước chia đôi. Chúng tôi sợ Cộng sản, với đấu tranh giai cấp và diệt trừ những người mà họ liệt vào hàng địa chủ, tiểu thương, phản động… hành động diễn ra thật là khủng khiếp. Gần triệu người rời bỏ miền Bắc, di cư vào Nam  tìm tự do và đã hưởng được những năm đầu an bình và thịnh vượng ở đó.

Không bao lâu, cuộc nội chiến tương tàn lại bắt đầu giữa Bắc-Nam. Miền Bắc được cả một khối Cộng sản khổng lồ kiên trì hỗ trợ, miền Nam được Hoa Kỳ mang quân vào chống lại. Cuộc chiến tranh kéo dài hai mươi năm, hơn một triệu lính chết, mấy triệu thường dân bỏ mạng. Nước Mỹ cuối cùng bỏ cuộc và ngưng yểm trợ cho miền Nam, khiến cho Cộng sản miền Bắc thôn tính cả đất nước năm 1975.

Một lần nữa chúng tôi lại cố thoát khỏi Cộng sản bất chấp nguy hiểm. Mỗi người tìm đường vượt biển một cách. Cuối cùng Hoa Kỳ đã chấp nhận cho tỵ nạn. Chúng tôi đã trở thành công dân Mỹ, và đã sống ở đây đến nay đã hơn 45 năm rồi. Cuộc đời biết bao nhiêu biến đổi, mất mát trắng tay.

… Trở lại chuyện của chị tôi.  Những năm cuối đời, sau khi chồng mất, chị cư ngụ một mình trong một căn cao ốc của các cao niên trong thành phố tại vùng Tây Bắc Hoa Kỳ. Vốn thích văn thơ, lãng mạn chị sống lại cái quá khứ của một thời. Chị bắt đầu soạn lại tác phẩm kịch thơ mà chị đã giúp viết chung với một người và viết hồi ký.

Chị góp lại và nhờ một người học trò cũ, là một bác sĩ đã về hưu, thuê người đánh máy, layout và sẽ in thành sách. Chị cho biết bản thảo dầy khoảng trên sáu trăm trang. Nhưng trong nhiều năm cuốn sách mãi không xong vì cô giáo và ông học trò cứ mãi tranh luận về nội dung. Riêng tôi cũng có một chút kinh nghiệm viết lách, thường các bài được đăng trên các tạp chí văn học tại Cali. Khi tôi chọn ra một số bài để in cuốn sách đầu tiên và được Thư Viện Trung Ương Seattle giúp ra mắt tại thính đường, thì chị tin tôi có thể hoàn thành ý nguyện của chị. Chị đành cám ơn ông học trò cũ và chuyển lại những phần ông đã làm cho tôi. Dĩ nhiên ông ta vui vẻ được rảnh tay, an hưởng tuổi hưu.

Tôi đọc lại tập bản thảo đã đánh máy và layout. Phần đầu là vở kịch thơ “Viễn Khách”, khi chị đem từ khu Kháng Chiến về Hà Nội năm 1948, đưa cho nhà văn Vũ Bằng, phải đổi tên tác giả và lấy tên hai người ghép lại thành “Hoa Thu”. Vở kịch thơ đã được đăng trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy và đã được trình diễn tại nhà Hát Lớn Hà Nội năm 1951, với nhiều nghệ sĩ tên tuổi đóng góp như Vũ Khắc Khoan, Hoàng Thư, Văn Phú, Phan Tại, Tạ Tỵ, Mộng Lan… 

Nhưng sau nhiều năm tên vở kịch bị gắn lầm vào tên hai nhà thơ viết kịch tên tuổi khác là Hoàng Cầm và Hoàng Công Khanh. Vì người xưa, chị đã mất nhiều công sức liên lạc với hai nhà thơ trên để lấy lại chính danh cho tập “Viễn Khách”.

Chị cho là chưa đủ, nên đã bỏ rất nhiều thời giờ để viết những lá thư dài cho các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, và các tạp chí có ảnh hưởng trong và ngoài nước về hoàn cảnh và việc của chị đang làm như: Thượng Sỹ, Phan Tại, Võ Văn Ái Tạp chí Quê Mẹ, Đỗ Quý Toàn báo Người Việt và Tạp chí Thế Kỷ 21, Nguyễn Thị Giáng Châu Tạp chí Hợp Lưu, Băng Sơn Tạp chí Sân Khấu, Vương Trùng Dương Báo Saigon Nhỏ, hai học giả Nguyễn Huệ Chi, Đặng Tiến, nhà Biên Khảo Thụy Khuê, Tạp chí Văn Học và Thư Viện Đại học Cornell. Tất cả đều sốt sắng hồi âm và đã có bài viết hỗ trợ cho việc giải mã tên tác gỉả của cuốn kịch thơ Viễn Khách trên các tạp chí..

* * * * * 

Phần hai là những trang hồi ký cùng những tài liệu, hình ảnh không được xếp đặt một cách hợp lý. Tôi đề nghị với chị, sẽ chia cuốn bản thảo ra hai phần riêng biệt để dễ dàng thực hiện và không ảnh hưởng đến nhau. Lúc đó sức khỏe chị đã suy yếu, trí óc không còn như xưa, chị để cho tôi quyết định. Chúng tôi đã không khó khăn lắm khi biên soạn cuốn kịch thơ Viễn Khách. Khi cuốn thơ này được in thành sách dầy khoảng 250 trang, chị đã rất hài lòng cả về nội dung cũng như hình thức. 

Bìa kịch thơ Viễn Khách. Ảnh do tác giả gửi

Cuốn thứ hai là phần hồi ký, khó khăn hơn. Tôi cũng đã có nhiều dịp nghe chị kể chuyện về cuộc đời, sau những bữa ăn gặp nhau trong mùa Hè hay những tối ngồi bên lò sưởi trong những ngày tuyết mùa Đông trên vùng Tây Bắc Hoa Kỳ.

Có lần có cả mấy cô con gái của chúng tôi và cô bạn Mỹ ngồi nghe, đã thốt lên “Truyện đời của bác còn ly kỳ hơn cả truyện phim “Gone with The Wind “.

Tôi tìm đọc lại bản tóm tắt của tác phẩm “Gone with The Wind”. Cuộc đời của Scarlett phức tạp hơn. Nàng có ba đời chồng, mà đời nào cũng có con, nhưng cả đời Scarlett chỉ yêu có Ashley, một người mà không thể lấy được. Những người mà Scarlett gặp trong cuộc, họ ở trong cùng một giới tuyến miền Nam nước Mỹ trong thời nội chiến.

Điểm khác biệt với truyện của chị là chị ngẫu nhiên gặp ba người, thì những người trong cuộc này ở trong ba giới tuyến khác nhau, trong cùng một thời gian của một cuộc chiến: Thực dân, Quốc gia và Cộng sản. Họ ở trong ba guồng máy đối nghịch nhau và đều phải tìm cách hủy diệt lẫn nhau. Chị kết hôn với một người, nhưng giữ mãi mối tình đầu tiên với người trước suốt đời, vì đã không lấy được nhau.

Tôi đọc lại nhiều lần tập hồi ký, có lúc tôi có ý định không để nguyên văn những gì chị đã viết, mà dựng thành một tiểu thuyết trường thiên, một “saga” như những truyện đã được dựng thành phim ảnh mà tôi vẫn hâm mộ theo kiểu “War and Peace”, “Gone with The Wind” hay “Doctor Zhivago”. Việc này chắc tôi không đủ tài, sợ sẽ kéo dài và không thể xong. Trong thời gian đó, chị càng ngày càng yếu, lại hay bị ngã, phải vào Rehab mấy lần. Các cô con gái của chị phải đem mẹ về nhà săn sóc, trả lại căn phòng cho chính phủ và khuân đến nhà chúng tôi hơn chục thùng sách và các tập hồi ký cùng thư từ trao đổi mà chị từng giữ gìn trân quí.

Tôi đọc đến ngàn trang thư viết tay chữ nhỏ, thẳng hàng mà chị và người đó trao đổi với nhau. Đó là những tư liệu hiếm có, không những chỉ liên quan đến cá nhân của họ mà còn phản ảnh đến thời cuộc. Tôi quyết định tôn trọng giữ hồi ký của chị, những gì chị đã viết, chỉ thay đổi chút ít, và trích các đoạn thư trên cùng viết thêm các đoạn nối để cấu tạo thành truyện cho diễn tiến liên tục. Truyện của chị có nhiều tình tiết, tôi muốn tóm tắt ngắn gọn sau đây trước khi soạn để khỏi đi ra ngoài cái khung và những gì tôi muốn nói lên cái ý nghĩa cuối cùng của cuốn truyện. Chị lấy tên là Liên trong truyện, chỉ giữ tên một số người và đổi tên một số khác.

* * * * * 

“Bố Liên là một người có chức quyền tại địa phương và là chủ một trang trại lớn ở một vùng đồi núi, góa vợ có một con trai. Mẹ Liên là con gái Hà Nội, lỡ duyên đầu với một sinh viên Y khoa gốc người miền Trung, vì thân sinh của bà từ chối không muốn con lấy chồng xa. Sau đó lại phải theo tục lệ thời cổ, để tang hai cụ cố nên lỡ thì. Đến năm hai mươi bẩy tuổi thì một bà mai giới thiệu, bà kết hôn với bố Liên và theo lên ở đó.

Mẹ Liên thuở nhỏ có được học chữ Nho và chữ Quốc ngữ ở trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Bà thích đọc những truyện Tầu như bộ Tái Sinh Duyên … và hay làm thơ, nhưng đều là thơ than thân trách phận. Sẵn tài quán xuyến, mẹ Liên mở mang trang trại, xây kho dự trữ thóc gạo, hầm chứa nước mưa, các chuồng nuôi gia súc, xây tường cao bao quanh thành một dinh cơ có tiếng trong vùng, thế mà cũng vẫn bị cướp đến mấy lần. Có ai bán ruộng thì mẹ Liên mua, sau này có thể nói là ruộng thẳng cánh cò bay.

Liên được gửi lên Hà Nội học cùng với con trai riêng của chồng sau khi cả hai cùng đỗ xong Certificate, tức là bằng Tiểu học. Hồi đó học hành lên cao rất là khó khăn, thường bị hạn chế, nhất là đối với con gái, phần lớn chỉ dành cho con cái nhà có tiền và có đầu óc cấp tiến ở thành phố. Cấp trung học, các môn học đều bằng tiếng Pháp, học lịch sử Pháp, văn chương Pháp. Liên đậu được bằng Brevet, tức là bằng Trung Học đệ nhất cấp và đang tiếp tục học lên Tú Tài thì chiến tranh Việt Pháp bùng nổ cuối năm 1946.

Liên rời Hà Nội, trở về trang trại và bắt đầu lao vào một cuộc phiêu lưu của thời lửa đạn. Liên gặp lại được một số bạn cũ và một số sinh viên cũng tản cư về quanh vùng. Họ tổ chức thành một đoàn tuyên truyền hô hào dân chúng ủng hộ kháng chiến, chống lại người Pháp. Sẵn có tinh thần yêu nước, Liên hăng hái gia nhập với họ. Lại thêm có tài viết, Liên thảo các truyền đơn, diễn thuyết… Liên tháo vát và can đảm nên trở thành một phần tử chính của phong trào. Bố mẹ Liên cũng đóng góp công của đáng kể và còn cho các thành viên của phong trào họp hành, tá túc tại gia trang của ông bà.

Chiến tranh lan rộng, quân Pháp mở rộng vòng kiểm soát tiến ra xa Hà Nội và chiếm đóng một số tỉnh lỵ khác. Lực lượng chính qui Việt Minh yếu thế, phải rút lui về vùng rừng núi để bảo toàn lực lượng và chủ trương trường kỳ kháng chiến, nhưng vẫn cố tổ chức du kích quấy phá trong các vùng quê do Pháp kiểm soát. Quân Pháp đến lập một đồn lớn trên một quả đồi gần trang trại nhà Liên.

Một lần họ hành quân tảo thanh và ập đến nhà Liên, lục soát tìm ra được vũ khí và một số tài liệu. Họ tra khảo ông bố của Liên và định đưa ông và một số người trong gia đình giải lên đồn. Sẵn biết tiếng Pháp, Liên nói với viên Đại úy Pháp, tất cả là do Liên, bố Liên và các người khác không có liên hệ gì, Liên chịu bị bắt và theo lên đồn một mình. Vụ việc của Liên được báo về Hà Nội. Ngay ngày hôm sau, một Thiếu tá cấp trên đến đồn, họ bàn chuyện với nhau những gì Liên không được biết, nhưng trước khi ra về, viên Thiếu tá dặn viên Đại úy gần như muốn cho Liên nghe được, là đừng để ai hãm hại và phải bảo vệ Liên.

Liên bị giữ ở lại đồn hơn một tuần lễ, không ai tra hỏi, và được tự do đi lại trong vòng trại. Trại khá nhiều lính, gồm lính Pháp, lính thuộc địa Phi châu và một số đông lính Việt Nam. Không ai dám trêu chọc. Liên nghĩ rằng trong chương trình bình định của người Pháp, họ muốn có nhiều người hợp tác với họ. Họ có ý phủ dụ và lấy lòng Liên và gia đình. Liên biết tên viên Đại úy là Marchadier, trước hắn thường “tutoyer” mày tao với Liên, sau đổi thành “vouvoyer” cô với tôi đàng hoàng.

Minh hoạ: Pixabay

Một lần đi qua văn phòng của hắn, Liên thấy có một số sách văn thơ và hỏi mượn cuốn thơ Alfred de Vigny. Trong lúc ngồi chép một đoạn thơ sau:

“Gémir, pleurer, prier, est également lâche
Fais énergiquement ta longue et lourde tâche
Dans la voie où le sort a voulu t’appeler,
Après, comme moi. Souffres et…”

(Rên rỉ, khóc lóc, cầu xin đều là hèn nhát.
Hãy hăng hái thực hiện nhiệm vụ lâu dài và khó khăn của bạn 
Theo như mà số phận muốn gọi bạn,
Rồi, cũng như tôi.  Khổ đau và …)

Marchadier đi tới, nhìn vào và đọc tiếp: “…meurs sans parler”, (…chết mà không nói nên được) và y nói thêm có ai làm gì cô mà phải chết? Có khi Liên kiếm được mảnh vỏ cau, chà răng và lấy gương soi thử, hắn nhìn thấy nói: Cô đâu có xoàng (vous n’êtes pas mal), cô có nụ cười tuyệt vời (vous avez un sourire épatant). Liên nhớ đúng như ngày lên Việt Bắc, đến các đơn vị bộ đội, các người lính trẻ đều khen Liên như thế. 

Nhiều khi Marchadier tự tay săn sóc Liên trong các bữa ăn. Hai người vì thế nói chuyện với nhau dễ dàng hơn. Họ nói với nhau về văn chương Pháp, những tác phẩm mà Liên học trong thời trung học. Có những tối họ thức khuya, ngồi trên đồi nhìn xuống làng quê, họ nói đến những bài thơ trữ tình của thời thi ca lãng mạn như Lamartine, Paul Verlaine, Beaudelaire… Họ bàn luận luôn cả các vấn đề thời cuộc. Họ đều trẻ, có tri thức.

Marchadier cố gắng giảng cho Liên những gì mình tin tưởng: Nước Pháp muốn đến khai hóa và phát triển cho một nước Việt Nam nghèo đói, lạc hậu. Liên thì khăng khăng nói Việt Nam cần chiến đấu để dành quyền độc lập, thoát ách thuộc địa. Marchadier còn giảng thêm cho Liên biết về Cộng sản, Việt Nam sẽ được độc lập, nhưng không thể đứng một mình được, mà phải Liên Lập trong khối Liên Hiệp Pháp…Chắc Liên lúc đó cũng chưa nghĩ đến điều đó, và đang bị Việt Minh mê hoặc, lợi dụng lòng yêu nước mà bị lôi cuốn theo họ.

Dù có quan điểm khác nhau, Marchadier lại mê luôn Liên, anh ta vẫn tin ở mình sẽ chinh phục được Liên. Cũng không đáng ngạc nhiên lắm, Liên lúc đó khoảng hai mươi tuổi với sắc đẹp tỉnh thành, có học, thông minh, gan dạ, không biết gì là nguy hiểm. Liên xuất hiện nổi bật giữa những đám dân quê nghèo nàn, thất học, sợ sệt.

Rồi Liên được thả về nhà, nhưng vẫn phải lên đồn trình diện. Marchadier đề nghị Liên làm xã trưởng, Liên giẫy nẩy từ chối. Nếu không thì bố Liên phải làm, nhưng đời nào bố Liên nhận. Liên về gặp Hồng Phong, người chỉ huy Việt Minh trong vùng và báo cáo cho họ biết những việc xẩy ra vừa qua. Việt Minh lợi dụng luôn tình trạng của Liên và giao cho Liên hai công tác, tìm hiểu các tin tức như quân số, vũ khí, tin tức hành quân của địch. Việc thứ hai là địch vận, tìm cách dụ các lính Việt Nam bỏ súng quay về với cách mạng.

Một lần lên đồn, Marchadier đột nhiên đòi cầu hôn, và trao chiếc nhẫn cho Liên. Liên quýnh lên, hồi đó chuyện lấy Tây là một điều nhục nhã cho bản thân và cả gia đình, nhưng vì lo ngại không dám từ chối, đành nhận chiếc nhẫn. Marchadier hẹn ngày mai sẽ mang lễ vật theo đúng nghi lễ đến nhà bố mẹ Liên xin cầu hôn và sẽ đưa Liên và gia đình về Hà Nội. Liên về báo cáo cho Hồng Phong và y bèn  phái người đưa Liên sang sông vào vùng Việt Minh kiểm soát ngay đêm đó.

Sáng hôm sau, khi Marchadier đến nhà, thấy Liên đã bỏ đi, anh quá thắt vọng thốt lên “Sao cô ta đã quá vội vàng”, cùng lúc chắc anh cũng tự trách mình cũng quá vội vàng.

* * * * * 

Sau một đêm và gần một ngày lặn lội đi bộ, đến nơi Liên mệt lả nằm thiếp đi. Lúc tỉnh dậy hỏi ra mới biết mình đang nằm trong một trại giam. Những người xung quanh đều là tù nhân, nhiều nhất là buôn lậu, rồi đến trộm cắp, giết người và những người bị liệt là Việt gian. Họ giam nam nữ riêng phòng nhưng trong cùng một trại, vì không có đủ chỗ và người canh giữ. Họ giam Liên ở đó khá lâu, không tra hỏi, không xét xử. Liên lại còn nhìn thấy một thanh niên bị còng cả chân lẫn tay ở cuối phòng, hỏi thêm thì họ xì xào nói đó là một “Đại Việt gian”. Ít lâu sau anh ta không bị cùm nữa và được đi lại thong thả. Trong trại có một người lớn tuổi, là một công chức thời Pháp không biết chống đối gì mà bị coi là phản động cũng bị nhốt, nhưng lại được mọi tù nhân kính nể. Ông nói cho Liên biết, người bị cùm tên là An, trước làm công chức Phủ Toàn Quyền và là một đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ba người đó tự nhiên hợp chuyện hay gặp nhau, có khi họ nói nhỏ với nhau bằng tiếng Pháp. Sau này có một chuyện mà ai cũng cảm kích và còn nhắc lại hoài là khi được gia đình tiếp tế cho một chiếc xe đạp, An xin phép trưởng trại đem bán và chia cho cả trại giam. 

Liên ở trại giam gần một tháng, thì được tin An bị đưa đi quản thúc ở một trại tù khác trên Bắc Kạn, Liên nghĩ ngay chắc An bị đem đi thủ tiêu, như một số tù trước đây. Lúc bị giải đi, anh nói với Liên một câu bằng tiếng Pháp: “Dans une semaine, je serai dans la capitale”,: trong một tuần nữa, tôi sẽ ở thủ đô (Hà Nội). An là Việt gian hạng nặng, bị đưa đi nơi khác, Liên nghe An nói lấy làm lạ, nhưng không có thời giờ hỏi. Đột nhiên Liên xúc động vì có người tin cẩn và chí tình với mình, Liên xé vội một mẩu giấy ở một góc tờ báo viết mấy chữ: “Courage, je vous attendrai”, Hãy can đảm, tôi sẽ chờ anh, và dúi vào tay anh ta. Thực tâm khi Liên bồng bột viết dòng chữ trên, Liên chỉ vì lòng vị tha, như thương một người bạn trong cơn hoạn nạn, mà không có tình ý riêng gì, vì thực ra không ai biết tính mạng An rồi sẽ ra sao.  

* * * * * 

Thời gian ở trại giam Đại Bàng quá lâu, Liên làm đơn giải thích trường hợp của mình nhiều lần, nhưng không thấy động tĩnh gì. Liên nghĩ lại, cũng không thể trách họ nghi ngờ và đặt những câu hỏi về mình. Tại sao Liên không bị người Pháp hại, lại được đối xử một cách khác thường. Có thể Liên là một gián điệp của Pháp. Một mặt Liên và gia đình tuy là thành phần địa chủ nhưng có nhiều thành tích với cách mạng. Liên là một cô gái rất tỏ ra rất thành thật. Họ chưa biết xử trí ra sao, nên cứ tạm giam để theo rõi, nếu không đã bị mang đi thủ tiêu như những người khác rồi. Họ có câu “Giết nhầm còn hơn tha nhầm”. Trong thời gian trong tù, Liên tổ chức lớp học cho những người không biết chữ trong trại, được một số tù nhân yêu mến và họ thường săn sóc đến Liên. Giám thị trại cũng tin cậy Liên, thường nhờ Liên giải quyết những vụ lộn xộn giữa các tù nhân. Trại giam này trực thuộc một ty Công an, có nhiều quyền, coi cả vùng lớn từ đường số 5 và cả vùng ven đô Hà Nội, có thời kiêm cả nội thành khi các lực lương rút lui khỏi thành phố.

Ít lâu sau, trại thêm quá nhiều tù nhân và sợ bị lộ nên phải di chuyển đến một địa điểm khác, là trại Đông Lâu, đồng thời có sự thay đổi cấp chỉ huy. Nhờ giám thị trại đưa trường hợp của Liên lên ủy ban chuyển tiếp. Họ quyết định để Trưởng ty mới giải quyết. Trưởng ty mới nhận chức tên là Nghiêm, một người trông cao ráo, nghiêm túc. Ông ta đã xem kỹ hồ sơ của Liên và cho người gọi Liên lên trình diện, trước mặt mình là một cô gái tỉnh thành có sắc đẹp, có học, thông minh, bạo dạn và có vẻ thành thật. Ít lâu sau, Nghiêm đưa Liên ra khỏi trại giam và chỉ định Liên làm thư ký trong văn phòng của mình.

Chuyện của Liên và Nghiêm gần giống như chuyện của Liên với Marchadier. Làm thư ký nhưng không có việc gì, Liên ngồi nhớ và chép lại những bài thơ mà mình làm trong thời gian qua. Nghiêm đi qua, hỏi xem và không nói gì. Những ngày sau, Nghiêm hay đến gợi chuyện bâng quơ, rồi dần chuyển sang văn thơ. Điều tất nhiên là Nghiêm cũng không tránh khỏi lụy tình với Liên. 

Trong đám thuộc hạ chỉ biết răm rắp theo lệnh và đám tù nhân khốn khổ, nay Liên cũng lại nổi bật lên như một đóa hoa trong sáng, thông minh. Phần Liên cũng dậy lên một tình yêu chưa bao giờ có, Nghiêm trí thức, hiểu rộng, đã từng viết báo, viết kịch, làm thơ, rất hợp chuyện với Liên và nhất là người đã cứu Liên ra khỏi vòng tù tội. Đó chính là mối tình đầu và cũng là “mối tình lớn” của Liên.

Từ đó, Liên được Nghiêm tin cậy và đã giúp Nghiêm trong một số việc của cơ quan, giữ một kho hàng thực phẩm và hàng hóa tịch thu của dân buôn lậu. Liên lại thích thú ngồi chữa lại bản thảo còn đầy những gạch xóa thêm bớt của cuốn kịch thơ “Viễn Khách” mà Nghiêm đã viết từ năm 1943.

Trong hơn một năm trời, hai người đã chung sống với nhau thắm thiết. Nghiêm lại cho phép Liên bảo lãnh mấy cô gái trong trại giam ra để giúp việc, sai bảo. Nghiêm chiều chuộng Liên và cuộc sống của Liên thay đổi khác hẳn với đời sống loạn lạc kiệt quệ xung quanh. Liên nhờ người về đưa cha mẹ già và hai đứa em nhỏ lên ở cùng, vì lo ngại có thể bị hại nếu còn ở lại trại.

Cho đến một ngày quân Pháp mở một mặt trận lớn đến nơi cơ quan của Nghiêm. Tất cả đều phải di chuyển sâu vào vùng rừng núi. Liên không muốn đưa gia đình đi xa hơn nữa, không muốn các em mất học và nhất là ông bố Liên nhất định trở về trang trại, nên Liên nói với Nghiêm là sẽ đưa gia đình về quê và sẽ trở lại. Buổi tối, trên đường đi, khi gần đến trang trại, gặp một toán lính tuần tiễu, thấy động, họ xả súng bắn.  Liên đi đầu bị trúng đạn vào bàn tay trái, vội kêu to: “Ne tirez plus, je suis blessée”, Đừng bắn nữa, tôi bị thương rồi . Nghe thấy tiếng Pháp, lính Pháp ngưng bắn ngay. 

Sau đó là họ cho phép gia đình Liên hồi cư về trại. Riêng Liên được đưa về một bệnh viện ở Hà Nội để chữa trị. Khi khám trong người Liên có một số giấy tờ khả nghi nên họ giữ trong một phòng riêng để theo rõi. Lúc một bác sĩ người Pháp vào khám, ông ta xem qua và bảo mấy sinh viên nội trú cắt luôn hai ngón tay đó đi. Mấy sinh viên thấy một cô gái xinh đẹp, có học như thế không đành nên bảo nhau cố nối lại ngón tay cho Liên và tìm cách đổi Liên sang khu khác. Một lần nữa Liên thoát nạn.

Sau khi ra khỏi bệnh viện, Liên lo việc ăn ở cho gia đình và thi vào trường sư phạm. Ra trường, Liên được gửi đi dậy học ở Hải Dương. Năm 1952, được thư của Nghiêm, nhân dịp nghỉ Hè, Liên cùng mẹ lặn lội ra hậu phương, xuyên đường rừng vào tận ‘An Toàn Khu’, nơi Hồ Chí Minh đặt bản doanh tìm Nghiêm, có mẹ chứng kiến để mong được kết hôn chính thức. Khi gặp lại Nghiêm, Liên mới biết là Nghiêm đã bị tước hết chức vụ, đảng tịch và đang bị quản thúc, vì bị kết tội có liên hệ với địa chủ và tiểu tư sản, nhất là lại lo liệu cho Liên đưa gia đình về vùng Pháp.  Tuy nhiên vì Nghiêm là người có nhiều khả năng nên họ vẫn xử dụng trong một số công tác.

Sau khi hai người gặp nhau trong một cuộc họp mặt ngắn ngủi, có cảnh vệ đi kèm để kiểm soát, Liên và Nghiêm không nói được điều gì với nhau và đều hiểu là đành phải xa nhau. Từ đó, họ không được tin nhau nữa. Liên trở về Hà Nội và Nghiêm ở lại chiến khu. Liên suốt đời lúc nào cũng xót xa ân hận vì mình mà Nghiêm gặp nhiều hoạn nạn.

* * * * * 

Liên về Hà Nội với trái tim tan nát, nàng cho như cuộc đời mình thế là xong rồi.  Cũng có nhiều người muốn kết thân để tiến đến hôn nhân thì Liên đều nói là đã có chồng. Chợt một hôm, An, người tù Việt Quốc xuất hiện. An người bạn trong tù bị cùm mà Liên đã gặp mấy năm trước. An đưa ra mảnh giấy báo mà Liên đã viết vội  cho An khi anh bị chuyển trại, tưởng là đã bị thủ tiêu. Chừng ấy năm mà An vẫn còn giữ. Liên không biết rằng cái mảnh giấy báo và mấy chữ Liên viết trên đó trong lúc bồng bột đã là định mệnh của đời Liên. An cũng coi đó như là định mệnh đi tìm Liên và nay An đã tìm được Liên. Liên không hề hỏi tại sao hồi đó An thoát được, ngay cả những năm về sau. Liên cũng cho An biết mình là một người đã có chồng, và nói rõ người đó là Nghiêm đã giúp ra khỏi lao tù, mà An cũng đã nghe biết chuyện. Nhưng nói thế nào, An cũng không nghe, không thể lay chuyển lòng An. Anh nhất định là Liên đã có duyên nợ ràng buộc với anh. 

An là con nhà khá giả trên Lạng Sơn, bố mẹ giao du rộng, quen biết nhiều người Pháp ở đó, mà lại cũng thường dùng nhà của mình làm trạm chuyển tiếp những người làm cách mạng tìm đường sang Tầu, phần lớn họ thuộc đảng Đại Việt hay Quốc Dân Đảng. 

Năm 1954, Pháp thua trận. Hiệp định Geneve chia đôi Việt Nam làm hai. Việt Minh chiếm miền Bắc và sắp đem quân vào tiếp thu Hà Nội.  Không có kỳ vọng gì khi ở lại và về tương lai, Liên chấp nhận An. Họ kết hợp ngay lúc đất nước chia đôi, rồi vội vã cùng gần một triệu người di cư vào miền Nam. Liên đem theo mẹ và mấy đứa em nhỏ vào Saigon. 

Bố Liên không chịu theo vào Nam, ở lại coi dinh cơ và chờ người con trai theo kháng chiến trở về. Sau khi ông gặp được con trai, thì phong trào Cải Cách Điền Địa, tố khổ địa chủ sắp đến làng. Đúng dịp ông đi ăn đám giỗ, lúc về bị một trận cảm cúm và qua đời. Người con trai bị chính quyền nghi là cố tâm đầu độc bố để tránh bị đấu tố. Hậu quả là đã bị lột hết quân hàm, thu hồi đảng tịch, gian khổ suốt đời.

* * * * *

Định cư ở Saigon từ năm 1954 đến 1975, hơn hai mươi năm, Liên với An có với nhau năm người con. Được coi như thành công, xây dựng được cơ ngơi giữa thành phố, nhà rộng hai mặt tiền, cao năm tầng và gửi hai con đi du học tại Pháp, được vào trường lớn. Năm 1975, Cộng sản chiếm hết Miền Nam, Liên đưa được gia đình vượt biển đến Mỹ.  

Khi ra khỏi nước, An không muốn ở Mỹ và sang Pháp sống, vì thông thạo tiếng Pháp và hận Mỹ cho rằng đã phản bội Việt Nam. Mấy năm sau Liên mới sang đón được An về Mỹ cùng với gia đình. Nay An đã qua đời khi đã ở Mỹ nhiều năm.

Nhiều năm sau, khi các con cái đều có đời sống vững vàng, Liên nghĩ đến chuyện đi tìm lại những người xưa như để trả lễ. Liên sang Pháp thăm con gái và nhờ Bộ Quốc phòng tìm Marchadier. Họ cho biết Marchadier sau khi hết hạn kỳ tại Việt Nam đã chuyển sang Cam Bốt và tiếp tục sang Algérie tham dự một chiến tranh khác. Nay đã qua đời, còn người vợ là Josette đang ở vùng phía Nam nước Pháp. Liên đến thăm, hai người trở nên thân nhau và đã thư từ qua lại một thời gian dài. Liên cũng đã đến thăm mộ Marchadier, nói lời xin lỗi: “Cám ơn mối tình của anh và xin anh hiểu cho rằng mỗi người ở một chiến tuyến khác nhau”.

Minh hoạ: Pixabay

Còn về Nghiêm, Liên được biết, khi hết chiến tranh năm 1954, Nghiêm trở lại Hà Nội tìm Liên thì được biết Liên đã đi rồi. Nghiêm đã thốt lên:

“Những dấu chân em mất hẳn rồi,
Thế là tôi đã phá đời tôi…”

Năm 1975, sau khi miền Nam bị chiếm, Nghiêm lại vào Saigon tìm Liên một lần nữa, mà sao tìm thấy được. Nghiêm như mất hồn, lòng tan nát. Lý tưởng mình theo đuổi thì bị ruồng bỏ, người mình yêu thì đã bỏ ra đi. Nghiêm nhiều lần làm đơn xin xét lại để phục hồi đảng tịch, nhưng vô hiệu. Sau này, trong tình trạng mất ân sủng lại bị trù dập, Nghiêm phải lấy những bút danh khác nhau để dịch sách kiếm sống.

Nghiêm, người của một mối ân tình và là mối tình đầu. Khi được lại tin nhau năm 1990, hai người đã hẹn gặp nhau tại Hà Nội, nhưng Nghiêm đã mất năm 1992, trước ngày Liên trở về. Một lần họ nữa lại lỡ hẹn! 

Liên về Việt Nam, tìm đến ngôi mộ của Nghiêm ở một tỉnh sát biên giới Hoa Việt, thắp nén hương trên mộ. Con gái Nghiêm đã đưa cho Liên tất cả những tác phẩm và những gì mà Nghiêm đã viết. Liên mang về Mỹ, khi ngồi xem lại, Liên gặp bài thơ “Dấu Chân Em” mà Nghiêm đã làm khi trở lại Hà Nội tìm Liên mà không gặp. Có một đoạn, như một lời tiên tri, thấy mà thật xót xa:

“Là dấu chân em từng để lại
Một lần qua đó, giữa tim anh
Em về, theo dấu bàn chân ấy
Sẽ thấy anh nằm dưới cỏ xanh” 

Cuối cùng, cả ba người, một sĩ quan viễn chinh Pháp, một Quốc Gia, một Cộng sản ở ba giới tuyến đối nghịch với nhau trên một đất nước tang thương, trong một thời khói lửa thì cả ba người ấy đã đi vào thiên thu, không còn ai nữa. Chỉ còn lại Liên, cuối cùng cũng phải bỏ cái miền đất khốn đốn, đầy hận thù ấy mà ra đi…  

* * * * * 

Ngày cuối cùng của chị, tôi nhận được điện thoại của con gái chị, báo là bác sĩ cho biết chị chỉ còn vài ngày nữa, bây giờ chị chỉ nằm yên. Tôi nói chuyện với chị. Tôi không hiểu chị có nghe được tôi không, nhưng cháu tôi nói, cậu cứ nói đi mẹ cháu sẽ hiểu. Tôi đã nói những gì không còn nhớ hết, nhưng tôi đã nói là chị bình tâm, chị đã sống một cuộc đời thật là phong phú, đầy đủ. Tôi cũng đã nhắc đến quyển kịch thơ “Viễn Khách” tôi đã làm xong cho chị, còn quyển thứ hai tôi đã soạn xong hơn hai trăm trang và nay mai sẽ hoàn thành… Tôi mong là trong tâm thức cuối cùng, chị đã hiểu được những lời tôi nói.

Chỉ hơn một tiếng đồng hồ sau, cháu tôi gọi lại, báo tin chị vừa ra đi, trước ngày hẹn của bác sĩ và cô cũng cho tôi biết sau khi nghe tôi nói, hơi thở của chị dịu xuống và ra đi thanh thản. 

Chị mất năm 2020, đám tang của chị diễn ra vào thời đại dịch. Buổi sáng tại nghĩa trang, số người giới hạn, đeo khẩu trang và đứng xa nhau. Bình tro của chị được chôn bên cạnh mộ anh An, người chồng chị. Hai anh chị đã sống bên nhau 35 năm.

Tôi cùng các con chị đến đặt những bông hồng lên ngôi mộ mới. 

Cơn gió nhẹ nào đã đến lật trang cuối cuốn trường thiên, saga của cuộc đời chị.

* * * * * 

Ít tháng sau, tôi hoàn tất cuốn thứ hai và đem in cuốn hồi ký của chị. Tôi rút gọn xuống còn khoảng 250 trang lấy tên là “Đi Vào Khói Lửa”. Ngày giỗ đầu chị, tôi gọi cô cháu, nếu có đi thăm mộ mẹ nhớ mang cuốn sách ra mộ đốt để chứng tỏ tôi đã hoàn thành lời hứa của tôi mà chị mong đợi.

Tưởng như chuyện đã xong, chuyện của quá khứ đã qua rồi, tôi nghĩ tìm cách thanh toán mấy thùng đựng các trang hồi ký và thư từ của chị cùng những người liên hệ đang chiếm một chỗ ưu thế trong nhà mấy tháng vừa qua.Tôi gọi cô cháu gái, cô nói tùy ý cậu, nhưng cô biết ý là tôi tự tay không dám hủy bỏ và  nói sẽ đến lấy và xem lại rồi đem đi “recycle’ thì dễ dàng hơn. Nhưng khi cô soát lại mấy thùng giấy đó và đọc cuốn sách mà tôi soạn, cô biết rõ và hiểu rõ hơn về cuộc đời của mẹ cô mà cô thường nghĩ. Cô cho tôi biết cô sẽ chuyển dịch cuốn này sang Anh ngữ, cốt để chị em, con cháu của cô biết về người mẹ, người bà có một cuộc đời trên mức bình thường. 

Suốt mấy tháng trời cô gọi tôi gần như hàng ngày hỏi về những từ ngữ, những địa danh và những khúc mắc của lịch sử Việt Nam và nhất là những diễn biến bất ngờ trong các cuộc kỳ ngộ của mẹ cô. Cô cũng truy lùng trên Google để biết làng mạc, những trại giam và những cuộc hành trình đi bộ ròng rã trong các chiến khu của mẹ cô trong thời ly loạn. 

Cuối cùng cô đã hoàn thành, cuốn bằng Anh ngữ này được lấy tên là “Into The Fire”, tôi đem đi in, trang bìa hai cuốn được con gái của cô minh họa.

Tôi đọc lại cả hai cuốn, tự nhiên cảm thấy mình còn phải làm một cái gì thêm nữa. Nhân có sự quen biết mấy người trong Chương Trình Literature & Humanities –Community Engagement Services của Seattle Public Library, tôi gửi thử cuốn ‘Into the Fire” để hỏi ý kiến của mấy cô ra sao, không ngờ họ trả lời là muốn tổ chức một cuộc phỏng vấn trên Zoom như họ thường làm để giới thiệu các tác giả và  sách của họ. Nhưng sau đó, thư viện biết thêm là tác giả đã qua đời, nên  đã ngưng lại không tiến hành nữa.  

Ảnh do tác giả gửi

Lúc nào trong trí tưởng tượng của tôi, nếu như có một nhà sản xuất, một đạo diễn phim ảnh nào đó biết đến dựng thành phim, như những cuốn phim trường thiên mà tôi từng hâm mộ. Tôi hình dung ra những cảnh như khi Liên rời Hà Nội trở về quê lao vào cuộc kháng chiến: Cảnh Liên bị bắt và được người sĩ quan Pháp đã không hãm hại mà còn cảm mến muốn cưới làm vợ. Cảnh Liên được đưa trốn qua sông và bị Việt Minh đưa vào trại giam vì nghi ngờ làm gián điệp của Pháp. Cảnh gặp người chiến sĩ Việt Quốc bị cùm và mẩu giấy định mệnh khi người này bị đưa khỏi trại và nghĩ là sẽ bị thủ tiêu. Cảnh Liên được một đảng viên Cộng sản quyền thế nhưng lãng mạn cứu thoát khỏi trại giam trở thành một mối duyên văn thơ. Cảnh người chiến sĩ Việt Quốc giữ mảnh giấy báo trở lại Hà Nội tìm Liên và cả hai đưa nhau theo một triệu người di cư vào Nam khi đất nước chia đôi. Rồi cảnh 20 năm sau hai người lại đưa được gia đình tìm cách vươt biển tới miền đất hứa…Tất cả lồng trong khung cảnh của một thời nhiễu nhương của lịch sử Việt Nam vừa qua. 

Cảnh cuối cùng sau khi chồng chết, Liên đi tìm hai người xưa để trả ơn. Cảnh Liên sang Pháp ngồi bên mộ người sĩ quan viễn chinh, như một cánh hoa trong thời ly loạn. Cảnh Liên về Việt Nam ngồi bên mộ người cán bộ Cộng sản đã bị khai trừ khỏi đảng, như một mối tình thiên thu. Sau nữa là cảnh Liên ngồi một mình viết hồi ký trong một căn phòng cao niên, cảnh đám tang trong thời đại dịch và nấm mộ mới của Liên bên cạnh người chồng Việt Quốc, như một định bệnh đã an bài.

Tôi luôn tin rằng ý nghĩa câu chuyện của đời chị mãi sẽ là một tuyệt phẩm. 

10/2021
Viễn Khách 

Viễn Khách   


Luận Về Nghệ Thuật Lãnh Đạo

 


Luận về NGHỆ THUẬT LÃNH ĐẠO
Trần Xuân Thời

http://machsongmedia.org


(LTS, Chúng tôi nhận được bài viết "Luận về NGHỆ THUẬT LÃNH ĐẠO" của niên trưởng Trần Xuân Thời và cảm thấy đây là môt bài viết rất giá trị nên xin phép được phổ biến đến cộng đồng Việt Nam).


Lãnh đạo là một nghệ thuật. Ví phỏng mọi người bình thường đều có tiềm năng lãnh đạo ngang nhau, nhưng nếu tiềm năng không được trao đổi và phát triển thì khó có thể trở thành người lãnh đạo. Những người có khả năng lãnh đạo thực sự là những người tạo dựng được hoàn cảnh và thời thế. Là những người tổ chức được đoàn thể, quy tụ được nhiều thành phần hưởng ứng chủ trương đường lối phục vụ nhân sinh và thực hỉện được chương trình kế hoạch đã định.


Lãnh đạo khác với chỉ huy, mặc dù kinh nghiệm chỉ huy giúp ích rất nhiều cho vấn đề lãnh đạo. Các trưởng cơ quan hay đơn vị thường được gọi là chỉ huy trưởng, trưởng cơ sở… đảm nhiệm vai trò điều hành một đơn vị để phối trí và thực hiện một số công tác chuyên môn do luật định, nghĩa là những người chỉ huy phải chu toàn nhiệm vụ trong khuôn khổ quyền hạn và trách nhiệm đã được quy định…


Nhiều người lấy làm thắc mắc vì sao trong 47 năm tị nạn, một số người có chức cao quyền trọng trong xã hội Việt Nam Cộng Hòa, ít thấy xuất hiện để cứu dân độ thế.



Lý do là trong các sinh hoạt quốc gia, các nhân viên phục vụ trong các ngành dân, quân, cán, chính thường sống lâu ra lão làng, được bổ nhiệm vào các chức vụ chỉ huy nếu hội đủ một số tiêu chuẩn do quy lệ ấn định. Các cấp chỉ huy, trưởng cơ quan có nhiệm vụ và khả năng chuyên môn hạn chế tùy từng ngành riêng biệt.


Trong kinh nghiệm chỉ huy đó, có người chỉ có khả năng sinh hoạt trong ngành chuyên môn của mình, có ngườỉ có khả năng sinh hoạt trong nhỉều lãnh vực khác nhau.


Những người có khả năng sinh hoạt trong nhiều lãnh vực khác nhau, tự học hỏi và thăng tiến có triển vọng trở thành những người lãnh đạo. Lãnh đạo đòi hỏi sự biến ứng, đa năng và đa hiệu, thích ứng với hoàn cảnh vô thường của cuộc sống.


Người lãnh đạo khác với người thường là quyết định của họ sẽ ảnh hưỏng đến sự hình thành quyết định của người khác. Ý kiến của họ giúp được nhiều ngưởi khác thăng tiến sự hiểu biết. Thái độ xử thế của họ có thể tạo nên thái độ mẫu mực cho người khác noi theo.


Người lãnh đạo là người có “NHÂN”, thể hiện qua tinh thần hợp tác với các cộng sự viên và người đồng hành để thực hiện lý tưởng. Người lãnh đạo là người có “TRÍ” với nhiều sáng kiến, có đủ khă năng để quyết định những công tác hữu ích cho đoàn thể, cho cộng đồng, cho nhân quần xã hội. Là người có “DŨNG” để can đảm thực hiện sáng kiến hữu ích; không lùi bước trước gian nguy thử thách.


Người lãnh đạo là người có khả năng chấp nhận rủi ro và nguy hiểm. Khi làm việc phải, có thể bị chống đối một cách phi lý. Người lãnh đạo phải biết quan sát và nhận xét, phân biệt phải trái để hành động. Người lãnh đạo phải biết tu thân và phục vụ công lý trong tinh thần cần, kiệm, liêm, chính. “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Người lãnh đạo biết tiến, thối, chuẩn bị chu đáo, tạo hoàn cảnh thuận lợi: thiên thời, địa lợi, nhân hòa.


Người lãnh đạo là người có tinh thần trách nhiệm, thực hiện sứ mệnh một cách can trường, không lùi bước trước thử thách, dèm pha, đàm tiếu miễn là không làm điều trái với lương tâm.


Người lãnh đạo là người bảo vệ chính nghĩa và chính danh trong hành động. Thành thực với chính mình, biết bồi ưu và biết bổ khuyết; biết thực hiện những việc thích hợp với khả năng của mình; biết sống và hành động theo lý tưởng phục vụ nhân quần xã hội. “Vì danh bất chính thì ngôn bất thuận và ngôn bất thuận thì sự chẳng thành.”


Người lãnh đạo là người độ lượng, có lòng bác ái, từ bi, hỉ xả nói lên lòng nhân đạo, tình yêu nhân hậu đối với nhân quần xã hội. Đức Khổng Tử thường nói: "Vi thiện giả, Thiên báo chi dĩ phúc. Vi bất thiện giả, Thiên báo chi dĩ họa” làm điều lành thì Trời lấy phúc mà báo cho. Ngược lạỉ, người làm điều chẳng lành thì Trời lấy vạ mà báo cho. Nói khác đi “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo”. Do đó, người lãnh đạo tốt luôn luôn nghĩ đến điều thiện “Nhất nhật bất niệm thiện, chư ác giai tự khởi.” Một ngày mà không nghĩ đến điều thiện, thì mọi điều ác tự dấy lên.


Những người có tiềm năng lãnh đạo, mà có lòng nhân “nhân giả vô địch”, thì không ai thắng nỗi! “Thắng lòng mình” hơn thắng một vạn quân”, thì tâm thường sẽ được an lạc. Nhờ sự bình an trong tâm hồn mà trí tuệ được sáng suốt, minh mẫn, có thể được thư thái. “Hồn lành trong xác mạnh”. Nhờ sự thư thái về thể xác, minh mẫn về tinh thần, người lãnh đạo phát kiến được nhiều chương trình, kế hoạch hữu ích cho nhân quần xã hội, thoát hiểm cho cộng đồng, cho quốc gia dân tộc.


Những đức tính tự nhiên của người lãnh đạo có thể do bản chất “Thông minh vốn sẵn tính Trời”, hoặc được tô bồỉ bởi sự cố gắng tự học hỏi, tu luyện: “Văn ôn, võ luyện”. Không có hoa hồng nào mà không có gai. Không có kết quả nào mà không do sự khổ công tu luyện.


Muốn trở thành một người lãnh đạo cần phải can đảm dám từ bỏ tự cao, tự đại, tự mãn, cần phải áp dụng đức bác ái, từ bi, hỉ xả trong đời sống hàng ngày, để từ bỏ tính ích kỷ cá nhân. Muốn được vậy, phải luôn luôn học hỏi qua kinh điển, sách vở, báo chí, dụ ngôn, để hiểu biết lẽ sống của con người, giá trị của cuộc đời rồi mới hiểu được chân, thiện, mỹ mà tự cải tiến tâm hồn.


Một yếu tố đáng lưu ý của những nhà lãnh đạo Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ là những người đã từng đọc thật nhanh và đọc rất nhiều sách. Theo thống kê, có người đọc 700 chữ một phút và đọc ít nhất 30 cuốn sách một tháng.? Nếu thế thì chẳng bao lâu có thể thu tóm “Bốn bồ chữ của thiên hạ về một mối” Cao Bá Quát có sống lại cũng không địch nổi, dù ông có tự khoe trong thiên hạ có bốn bồ chữ, ông và gia đình chiếm hết ba bồ, còn lại một bồ cho thiên hạ…!


Lý do rất dễ hiểu là kiến thức thu thập ở ghế nhà trường, các quân trường, các lớp huấn luyện có tính cách hạn hẹp và chuyên môn, vài năm sau sẽ bị lỗi thời (obsolete), nếu không được cập nhật hoá. Do đó, vấn đề tu nghiệp rất quan trọng trong mọi ngành sinh hoạt hiện nay tại Hoa Kỳ và các quốc gia tân tiến. Nếu không có tu nghiệp tức là không có tiến bộ, không thu nhận được kiến thức mới tức là thoái hoá…


Một số người đóng vai trò lãnh đạo ở Việt Nam qua Mỹ mai danh ẩn tích vì nhiều lý do. Có thể vì không cập nhật hoá được kiến thức của mình. Có thể vì đã mệt mỏi muốn quên đi sự đời; tìm nơi vắng vẻ...


“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao”


Mỗi người có một hoàn cảnh riêng. Vì lý do nhân đạo, chúng ta nên tôn trọng ý thích của mỗi người vì “Nhân sinh quý thích chí”. Không ai có quyền chê trách, bắt buộc người khác làm những việc mà họ không muốn làm. Vì như vậy chẳng những phi lý mà còn vi hiến “Involuntary Service”!


Những người có thiện chí lãnh đạo cần phải trao đổi và cập nhật hoá kiến thức, hiểu biết rộng rãi về mọi ngành sinh hoạt của quốc gia. Không phải để trở thành chuyên viên, hiểu biết về một ngành sinh hoạt, mà phải có kiến thức tổng quát để quản trị, để vạch chính sách chung cho mọi ngành sinh hoạt. Câu nóỉ: “Một ngày không đọc sách, soi gương tự thẹn, hai ngày không đọc sách, nói chuyện nhạt nhẽo khó nghe” thật là chí lý.


Ngoài những đức tính tự nhiên đã nêu trên, người lãnh đạo là người có đời sống tinh thần phong phú.


Người lãnh đạo là người sống với đức tin: Lòng tin chở được núi. Với đức tin mọi việc hữu ích sẽ được hoàn thành một cách thoải mái. Sống trong đức tin là sống trong sự cải hóa tâm hồn. Sống đức tin là sống theo gương đấng các bậc thánh nhân.


Người lãnh đạo sống với hy vọng: Hy vọng giúp con người biến mộng thành thực. Hy vọng là nguyên động lực thúc đẩy con người làm việc, đánh tan được sự thất vọng rình rập cuộc sống. Hy vọng không phải là mơ mộng, mà là mãnh lực thúc đẩy con người thực hiện được điều mong ước, mộng tưởng của mình. Mặc dầu “Ở đời lắm nỗi không bằng mộng. Mộng lớn bao nhiêu khổ bấy nhiêu”, như tìm kiếm hạnh phúc trong thương đau. “Chén tân khổ, nhắp ngon mùi chính khí”


Người lãnh đạo sống với tình yêu nhân loại: Tình yêu là hy sinh và phục vụ. Vì tình yêu mới có thể làm vỉệc một cách vui vẻ, không bao giờ chán nản. “Khi yêu tam tứ núi cũng trèo, thất bát sông cũng lội, thập ngũ đèo cũng qua”. Yêu là hy sinh, quên mình để phục vụ cho người khác. Tình yêu sẽ mang lại sinh lực, nhuệ khí, tăng cường các đức tính tốt của con người, vì yêu là muốn đem lại sự tốt đẹp cho tha nhân. Có những người bôn ba hải ngoại, chân chạy không bén đất, vì nhiệt tình phục vụ nhân quần xã hội, mong đem lại tự do, dân chủ, hạnh phúc thực sự cho đồng bào. Bất cứ công việc gì thực hiện cho tha nhân mà không dựa trên tình yêu thì thiếu giá trị tỉnh thần và do đó thiếu dụng đích chính đáng. Cách cho hơn của cho là vậy! Vua Trần Nhân Tông thấy dân đói khổ đã nói với quần thần: “Trẫm thương dân như thương con trẫm” chứng tỏ lòng nhân của một vị anh quân. Nhiều nhà cách mạng đã hy sinh cho cuộc đời để phục vụ cho lý tưởng quốc gia dân tộc.


Người lãnh đạo là người biết khiêm nhường. Khiêm nhường là biết mình, là nhân nhượng, không so sánh mình với kẻ khác để tự ty mặc cảm hay để tự cao, tự đại, tự mãn. Khiêm nhường là phục thiện, biết nghe điều phải, biết học điều hay, biết làm điều tốt. “Bất sỉ hạ vấn”. Khiêm nhường không có nghĩa tự xem mình thấp kém hơn kẻ khác, hay tự ty mặc cảm. Tự ty mặc cảm không phải là khiêm nhường mà là mất tự trọng, tự tín (loss of self esteem).


Khiêm nhường là đức tính phát xuất từ sự hiểu biết về sự hữu hạn của đời người, của trí tuệ, của khả năng cá nhân. Sự khiêm nhường phát xuất từ sự nhận định được rằng, tha nhân, dù xuất hiện như thế nào chăng nữa, vẫn là những cá nhân đặc thù, có những khuyết điểm nên tránh và những ưu điểm nên theo.


Sự khiêm nhường sẽ cho ta thời gian và sự bình tỉnh để can đảm nhận được giá trị của người khác, mà những người tự cao, tự đại, tự mãn, kiêu căng, không đủ bình tĩnh và lý trí để ghi nhận ưu điểm của người khác để tự cải tiến bản thân mình. Tính khiêm nhường nuôi dưỡng các đức tính khác và mở đường cho con người tự thăng tiến và được tôn trọng.


Thế thì các đức tính của người lãnh đạo chung quy vẫn nằm trong ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.


* Nhân: Người lãnh đạo là người có lòng nhân, nhận lãnh trách nhiệm để phục vụ nhân quần xã hội xem như sứ mệnh cao cả của đời người.


* Nghĩa; người lãnh đạo là người có lý tưởng phục vụ cộng đồng, xã hội, quốc gia, việc tốt dù nhỏ đến đâu cũng nên làm và việc quấy dù có chết cũng từ chối.


* Lễ: Người lãnh đạo biết kính trọng tha nhân, những người mà mình xem là đối tượng để phục vụ.


* Trí: Người lãnh đạo là người sáng suốt, khôn ngoan, nhờ kiến thức tống quát rộng rãi do công lao cá nhân chịu khó học hỏi để có đủ khả năng quyết định sáng suốt. “Bất sỉ hạ vấn”, học hỏi người dưới quyền không lấy làm thẹn.


* Tín: Người lãnh đạo là người tạo được lòng tin của tha nhân bằng lời nói và hành động. "Nhân bất tín vô lập”, người không có chữ tín, không thể đứng vững được. “Tín vi nhân chi bảo”, được sự tin tưởng là bảo vật của nhân thế.


Người lãnh đạo là người “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc”. Khổ trước cái khổ của thiên hạ và vui sau cái vui của mọi người.


Người lãnh đạo thay vì thoái thác, trùm chăn, lẩn trốn thế nhân, thường xuất hiện như một tấm gương sáng, cải hóa thế nhân bằng một đời sống chí tình, chí nghĩa, “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, đem chí nhân để thay cho cường bạo”. Quan điểm này được thế giới công nhận qua bản “Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền” do Liên Hiệp Quốc ban hành năm 1948 sau khi thế chiến thứ 2 đã tàn sát hằng chục triệu nhân mạng trên thế giới.


” Kìa những kẻ bày binh bố trận

Đem thân vào cướp ấn nguyên nhung

Gió mưa sấm sét đùng đùng

Phơi thây trăm họ nên công một người”


Cũng như cuộc chiến tàn khóc, vô nhân đạo mà HCM và đảng CS Hà Nội đã nhuộm đỏ Việt Nam khiến cho đồng bào quốc nội sống trong sự thống trị bạo tàn của chế độ cộng sản:


 “Quê ta chốn ấy giờ tang thương lắm

Mảnh đất ưu phiền hai chữ nắng, mưa”!


Người lãnh đạo là người biết quên mình để phục vụ lẽ phảỉ, mọi hành động đều hướng đến Chân, Thiện, Mỹ. Người lãnh đạo là người nhập thế, biết sử dụng tài năng của mình để nhận lãnh trách nhiệm và để phục vụ tha nhân.


Luận đến đây, mỗi người chúng ta tự xét mình có phải là người lãnh đạo hay không? Tùy hoàn cảnh và phạm vi sinh hoạt, mỗi người có thể trở thành người lãnh đạo đoàn thể, cộng đồng, xã hội, quốc gia. Người lãnh đạo phải am hiểu kiến thức của thế trần, trang bị cho mình tinh thần lương thiện, vương đạo và lý tưởng phục vụ tha nhân.


Giữa vấn đề sinh hoạt đơn thương độc mã và sinh hoạt tập thể, thì sinh hoạt tập thể là một môi trường thich ứng để đào tạo các nhân vật lãnh đạo. Có sinh hoạt tập thể thì mới biết được ưu và khuyết điểm, mới có cơ hội trao đổi tư tưởng và tự học hỏi để tiến bộ. Nhưng cũng nên lưu ý là đoàn thể phải có khả năng sinh hoạt rộng rãi, phát triển hội viên và sinh hoạt cả nội bộ lẫn sinh hoạt ngoại vi, cộng đồng, xã hội mới có thể đem tinh thần phục vụ đến cho nhân thế.


Một đoàn thể đóng kín là một đoàn thể chẳng bao lâu sẽ bị mai một và héo tàn “A group closed upon itself will soon wither and die” dù đoàn thể đó là ái hữu, xã hội, tôn giáo hay chính trị.


Người lãnh đạo không chỉ phát triển đoàn thể cho mình, hay đoàn thể nào có mình là đủ, mà phải tạo cơ hội cho người khác tham gia đoàn thể, để có cơ hội phát triển, đồng tiến xã hội. Người lãnh đạo là người có tinh thần thông hiệp phong phú, biết kỹ thuật kết hợp, đoàn kết để tạo thành sức mạnh nhằm xây dựng nhân quần xã hội ngày càng thêm tốt đẹp về tình cũng như về lý.


Tình:


Mục đích của đoàn thể nhằm phục vụ các nhu cầu thiết yếu của tha nhân theo hệ cấp nhu cầu (Abraham Maslow):(1) Nhu cầu căn bản sinh vật lý (physiological needs) như đói ăn, khát uống; (2) Nhu cầu được sinh sống an toàn (security needs) không bị đe doạ bởi bất cứ nguyên nhân nào, sống an cư, lạc nghiệp; (3) Nhu cầu được sống hội nhập, (social needs) người là sinh vật xã hội, sống thành tập thể, hội nhóm, xã hội, cộng đồng; (4) Nhu cầu được tôn trọng (esteem needs); (5) Nhu cầu thực hiện được những điều mong ước, (self actualizing needs) như lý tưởng của mình.


Lý:


Nhu cầu sống thành tập thể, hội nhóm, dù đoàn thể được tổ chức có quy cũ theo luật lệ hiện hành (de jure) hay tổ chức theo kết ước, bất thành văn (de facto) cũng phải theo những ý niệm căn bản của nhân tình thể hiện qua cương thường đạo nghĩa làm căn bản cho luật lệ hiện hành.


Xã hội, cộng đồng hay đoàn thể là những tập thể chung sống giữa người và người trên hai bình diện tình và lý. Muốn sinh hoạt được hữu hiệu, đoàn thể phải được điều hành hợp tình và hữu lý thể hiện qua các nguyên tác căn bản được các quốc gia tự do tân tiến chấp nhận về vấn đề tổ chức và quản trị hiệp hội và nhân sự hữu trách phải tuân thủ các nguyên tắc luân lý nghề nghiệp (code of ethics).

                    

Hiện nay tại Hoa Kỳ, cũng như tại các quốc gia tự do, các đoàn thể xã hội, ái hữu, cộng đồng … thường được thành lập theo luật hiệp hội bất vụ lợi (not for profit organization –NPO). Tuy chi tiết có thể khác nhau, nhưng tổng thể 50 tiểu bang tại Hoa Kỳ có 50 bộ luật riêng về hiệp hội với các nguyên tắc căn bản tương tự.

 

Hình thức tổ chức thông thường theo luật lệ hiện hành, hội viên bầu các vị giám đốc vào Hội Đồng Quản Trị (Board of Directors). Hội đồng Quản Trị thường có 3 chức năng chính: Quyết nghị (deliberative), Chấp hành (executive) và Giám sát (oversight). Cả ba cơ chế, tuy ba mà một, tuy một mà ba, đồng chịu trách nhiệm về sự thịnh, suy của tổ chức, chứ không phải ba cơ chế biệt lập không liên hệ với nhau.


Cả ba cơ chế phải cùng nhau quyết nghị về chính sách, chương trình, kế hoạch và phải hổ trợ cho nhau để thực hiện phần vụ của mỗi cơ chế và toàn bộ chương trình đã đề ra và được chấp thuận.


Khi bầu, hội viên thể hiện sự tín nhiệm và uỷ thác cho các vị giám đốc nhiệm vụ quản trị và điều hành hiệp hội gọi chung là trách nhiệm được tín thác (fiduciary duty).

Sự kiện nhận trách nhiệm được hội viên tín thác đòi hỏi các thành viên hữu trách phải chu toàn nhiệm vụ qua ba tiêu chuẩn hành sự:


Cần mẫn: (duty of care): Chăm lo sinh hoạt của tổ chức trong vấn đề hình thành và cập nhật các văn kiện căn bản; thực thi chính sách, chương trình, phục vụ tổ chức và thành viên như nhiệm vụ đã được quy định trong nội quy với tinh thần thận trọng, cần mẫn, tận tình, và biết tiên liệu để tránh sự bất ổn, phân hóa, gây thiệt hại cho tổ chức và hội viên về tinh thần và vật chất.

Trung tín (duty of loyalty): Trung thành với bản điều lệ, nội quy để phục vu hội viên, bảo vệ uy tín, danh dự và tài sản của tổ chức; không được chiếm công vi tư, vi phạm nguyên tắc quyền lợi tương phản (conflict of interest), không cạnh tranh bất chính (unfair competition) bằng lời nói, hành động; phải tạo sự tín cẩn, tôn trọng và hợp tác giữa các đồng sự, thành viên, trung thành với danh xưng, tôn chỉ, mục đích của tổ chức.

Tuân phục (duty of obedience): Tuân giữ các nguyên tắc điều hành nội bộ, luật lệ tiểu bang, liên bang, báo cáo định kỳ về sinh hoạt, tài chánh, thuế khoá, nhật tu, tái ghi danh thường niên giấy phép hoạt động theo luật định…


Vi phạm các trách vụ nêu trên thường là nguyên nhân của sự bất tín nhiệm, bãi chức, hay tranh tụng trong sinh hoạt đoàn thể ái hữu, tôn giáo hay xã hội cộng đồng…



Hy vọng với tinh thần cần, kiệm, liêm, chính trong tư tưởng để lên khuôn cho hành động thì chẳng những mọi sinh hoạt sẽ được chu toàn và hạnh thông trong công tác phục vụ phúc lợi chung của tập thể người Việt cư ngụ tại hải ngoại mà đại nghiệp cứu quốc cũng sẽ chóng được viên thành.

    

Đó cũng là ước nguyện chung của tất cả chúng ta vậy.


Trần Xuân Thời


Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2023

Thương Thay Nàng Tô Thị

 



Bộ Ảnh Màu Cực Hiếm Về Việt Nam Hơn 100 Năm Trước

 

Phố Tràng Tiền ở Hà Nội vào năm 1914 – 1915

BỘ ẢNH MÀU CỰC HIẾM VỀ VIỆT NAM HƠN 100 NĂM TRƯỚC
Sưu tầm

Đầu thế kỷ 20, Albert Kahn đã cử các nhiếp ảnh gia của mình tới hơn 50 quốc gia trên thế giới. Đội ngũ của ông đã thực hiện tổng cộng 72.000 bức ảnh, tạo thành bộ sưu tập lớn nhất từ trước tới nay trong giai đoạn “sơ sinh” của ảnh màu. Họ đã chụp những bức ảnh màu đầu tiên ở các quốc gia xa xôi đối với phương Tây thời đó, trong đó có Việt Nam. Là con người mơ mộng và có tư tưởng quốc tế hóa, ông chủ ngân hàng người Pháp Albert Kahn (1860 – 1940) tin rằng mình có thể tăng cường sự giao thoa văn hóa và hòa bình giữa các dân tộc qua nghệ thuật nhiếp ảnh.

Năm 1909, Kahn bắt đầu thực hiện dự án “kho ảnh về cuộc sống của con người trên trái đất” để ghi lại những hình ảnh từ nhiều địa điểm khác nhau trên thế giới bằng hệ thống chụp và xử lý ảnh bằng kính màu màu – phương pháp chụp ảnh màu đầu tiên trên thế giới.

Năm 1929, sự sụp đổ của phố Wall buộc Kahn phải ngừng dự án. Mặc dù ngân hàng bị phá sản sau cuộc Đại suy thoái nhưng bộ sưu tập của ông vẫn “đứng vững”. Ông qua đời năm 1940 và để lại cho thế giới một bộ sưu tập ảnh màu vô cùng quan trọng, một cuốn lịch sử sống động nhất về cuộc sống con người đầu thế kỷ 20.

Sau đây là một số hình ảnh về Việt Nam trong các năm 1914 – 1916 trong bộ sưu tập của Albert Kahn, được giới thiệu trên trang BELLE INDOCHINE của Pháp.

Phố Tràng Tiền ở Hà Nội vào năm 1914 – 1915

Các vị quan trong phẩm phục nghi lễ ở ngoại vi Hà Nội, 1915

Quan Thống sứ Bắc kỳ bên người vợ và 4 đứa con, 1915

Phố Hàng Thiếc ở Hà Nội năm 1915

Cầu Paul Doumer (Long Biên), Hà Nội, 1915

Thuyền trên vịnh Hạ Long, 1916

Hòn Gai năm 1915

Sông Tam Bạc, Hải Phòng, 1915

Thuyền bè trên sông Hồng, gần cầu Paul Doumer (Long Biên), Hà Nội năm 1915

Gánh hàng chuối bên bến sông Hồng, Hà Nội 1915

Phố Hàng Gai, Hà Nội 1915

Hai người đàn ông hút thuốc phiện, 1915

Một con thuyền của người Hoa kiều, 1915

Cô gái người Hoa hút thuốc phiện, 1915

Vịnh Hạ Long, 1915

Một bà đồng, 1915 

Một ông đồ bán chữ ở Hà Nội, 1915

Những người bán gạo, 1914 – 1915

Những con thuyền gần một mỏ đồng, 1915

Chợ Bắc Lệ, Lạng Sơn, 1915

Làng Nà Chạm ở Yên Bái, gần biên giới với Trung Quốc.

Một ngôi chùa trên đường đến Tam Đảo, 4/1916

Các hương chức gần Hà Nội.

Mỏ than Hòn Gai, 1915

Sưu tầm


Hoa Nhìn Như Chim Nhỏ Mới Nở Ra...

 


HOA NHÌN NHƯ CHIM NHỎ MỚI NỞ RA...
Sưu tầm

Khi trông thấy bức ảnh trên đây, điều đầu tiên bạn nghĩ đến là gì? Một chú chim đậu trên cành được photoshop giống bông hoa, hay là một bông hoa được ai đó "trêu đùa" vẽ thành hình chim chóc? - Bông hoa lan "giả dạng" chim họa mi siêu hoàn hảo. Thật đáng tiếc là không có đáp án nào đúng cả, bởi đây hoàn toàn là một kiệt tác của mẹ thiên nhiên! "Chú chim" mà bạn nhìn thấy trong ảnh đích xác là một nụ hoa lan sắp nở rộ, với phần lông tơ mềm mịn như thật ở đài hoa. Giống hoa này có tên là Magnolia Denudata, thuộc họ mộc lan có nguồn gốc từ Trung Quốc. 

Loài hoa "gây lú" người nhìn với tạo hình siêu chân thực

Hoa lan chim có màu hồng với mùi hương cam chanh, duyên dáng và uyển chuyển giống chim họa mi đến mức ai cũng phải thốt lên kinh ngạc. Loài lan này có lịch sử tồn tại khá lâu đời, được trồng từ hơn 1000 năm trước trong khuôn viên các ngôi chùa Phật giáo tại Trung Quốc. Hoa mộc lan được xem như biểu tượng của sự tinh khiết nên ở thời nhà Đường chúng cũng được trồng dọc theo cung điện của hoàng đế.


Hoa lan chim có phần đầu mô phỏng y hệt mắt và mỏ chim, phần nhụy lấp ló bên trong vô cùng sinh động.

Ngày nay, tại nhiều công viên, khu vườn và thậm chí là những dải cây xanh dọc theo các con phố ở Bắc Kinh, bạn có thể tìm thấy những bông hoa lan xinh đẹp mô phỏng hình chim này. Trông chúng cứ như một đàn chim nhỏ đậu lấp ló trong những tán cây, còn biết nghiêng đầu làm duyên với người qua đường nữa.

Hoa lan bạch hạc

Phải nói rằng thiên nhiên quá ưu ái khi sản sinh ra loài hoa cao quý như phong lan, trong số đó có một giống lan sở hữu hình dáng y hệt chim hạc trắng - chính là lan bạch hạc. Khi nở bung ra thì mỗi bông lan trông như chú hạc đang sải cánh bay lên trời, màu trắng tinh khôi và có phần tua 2 bên tinh xảo như lớp lông vũ của chim thật.


Lan bạch hạc mô phỏng đầy đủ bộ phận của một chú chim, từ phần đầu, cổ dài cho đến đôi cánh.

Lan bạch hạc có tên khoa học là Pecteilis radiate, tên gọi khác là Diệc bạch. Loài lan này được trồng nhiều ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Thân cây cao khoảng 15cm đến 50cm, mọc thành từng bụi lớn, lá dài thanh mảnh màu xanh.

Hoa lan bạch hạc rất thơm và nở lâu, có thể duy trì tận 1 tháng. Mỗi ngọn cây có thể sản sinh từ 1 đến 3 bông hoa, chụm vào nhau như đàn hạc đang múa khá sinh động. Hoa có đường kính khoảng 3cm và thường nở vào khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 8.


Lan bạch hạc thích hợp với những vùng có khí hậu ôn hòa. Ở Việt Nam hiện nay cũng có nơi trồng lan bạch hạc, tuy nhiên loài lan này đang bên bờ vực tuyệt chủng, rất quý hiếm và có giá trị cao.

Hoa lan ong

Nếu đã ngạc nhiên với loài lan chim và lan hạc ở trên thì loài lan hình con ong này sẽ làm bạn bất ngờ hơn nữa. Lan ong có tên khoa học là Ophrys apifera, chiều cao khoảng 30 cm, phân bố chủ yếu ở miền nam nước Anh, Ai-len và xứ Wale. Hoa lan hình ong rất dễ nhận dạng bởi mùi hương và màu sắc độc đáo của chúng. Những đài hoa lớn mập mạp, cánh hoa nhỏ màu hồng, viền cánh hoa màu nâu khá nổi bật, giống hệt một bé ong đang cười hồn nhiên.

Xin chào, mình là hoa lan ong đây!

Các loài côn trùng thụ phấn như ong đực thường bị hình dáng giả mạo của hoa lan "đánh lừa". Sau khi tiếp xúc với hoa, lũ côn trùng sẽ bị các hạt phấn hoa dính vào cơ thể, mang đi khắp nơi để thụ phấn. Xét tổng thể thì mỗi bông lan ong đều có diện mạo vô cùng yêu đời!

Nhìn có khác gì đàn ong thật đang hút mật đâu cơ chứ!

Dù nhìn thẳng hay nhìn nghiêng thì hoa lan ong đều đốn tim người khác vì màn cosplay "cưng xỉu", lại còn có màu vàng và lớp lông tơ giống y xì ong mật nữa! Đang đi dạo trong rừng mà gặp những bông lan ong đang tươi cười hớn hở thì đảm bảo không ai cưỡng nổi sức hút của chúng.

Hoa lan "vịt trời bay"

Flying Duck là giống phong lan nhỏ cao khoảng 50cm, có tên khoa học là Caleana Major, mọc chủ yếu ở miền đông và miền nam Australia như Queensland, Tasmania, Victoria, New South Wales... Hình dáng loài hoa này trông giống hệt một chú vịt đang sải cánh chuẩn bị bay lên trời, rất phóng khoáng và chân thực.

Cận cảnh giống lan "bắt chước" vịt trời có chiếc mỏ sao y bản chính.

Hoa lan vịt thường xuất hiện vào khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, khi nở ra sẽ có màu tím, đỏ thẫm và xanh lá. Cây lan vịt có thể cao đến nửa mét nhưng hoa của nó chỉ có kích thước khoảng 1,27 - 1,9 cm bằng cỡ ngón tay.

Loài hoa lan nhỏ bé nhưng lại có tạo hình mô phỏng dáng vịt bay vô cùng sống động.

Hiện tại lan vịt được xếp vào danh sách quý hiếm cần được bảo tồn tại Úc vì số lượng ít và môi trường sống khá đặc hữu. Rất nhiều người từng thử mang giống hoa lan vịt đi trồng tại nơi khác, song loài lan "sang chảnh" này đều không sinh trưởng được. Nếu muốn ngắm và sờ tận tay hoa lan vịt thì chỉ có cách bay sang Úc thôi!

Lan "mặt khỉ"

Nghe thật hài hước nhưng đúng là thế giới thực vật có một loại cây mô phỏng lại hình mặt khỉ. Đó là phong lan mặt khỉ với nhiều hình dạng khác nhau, nhưng đặc điểm chung khi nở là giống mặt lũ khỉ vô cùng!

Ngạc nhiên chưa, hoa lan lại nở ra chiếc mặt khỉ nè!

Một số giống lan mặt khỉ chỉ mọc tại nơi có địa hình cao thuộc những khu rừng ở Peru, Colombia và Ecuador, trong khi một số khác con người có thể nuôi trồng được nhưng không dễ dàng, bởi vậy nên giá thành loài lan này khá đắt đỏ.

Các cánh hoa và tua của chúng có thể dài ngắn khác nhau, nhưng phần nhụy thì giống hệt mặt chú khỉ! Nhìn ngộ nghĩnh "hề hước" thế thôi chứ hoa lan mặt khỉ lại tỏa mùi hương cam chín vô cùng ngọt ngào, hấp dẫn các loài côn trùng khác ghé thăm, hỗ trợ cho quá trình thụ phấn.

Tạo hóa thật là thú vị!

Lan mặt khỉ có khả năng nở hoa quanh năm. Hiện nay loài hoa này được liệt vào danh sách rất hiếm vì đặc tính sinh thái khác biệt chỉ phát triển ở vùng núi, nơi nhiệt độ ổn định, độ ẩm cao, khí hậu mát mẻ quanh năm.

Sưu tầm


Về Thăm Lại Trường Xưa

 



Say Hoa