Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2025

Nhận Định Về Tin Vui: Tân Thứ Trưởng, Gốc Việt, Bộ Hải Quân Hoa Kỳ!

 


TÂN THỨ TRƯỞNG GỐC VIỆT BỘ HẢI QUÂN HAO KỲ!
Kq Le Van Hai chia sẻ

Nhận Định Về Tin Vui: Tân Thứ Trưởng, Gốc Việt, Bộ Hải Quân Hoa Kỳ!

Việc Hải Quân Đại Tá Hùng Cao được Thượng viện Hoa Kỳ chuẩn thuận giữ chức vụ Thứ Trưởng Bộ Hải Quân, không chỉ là một bước tiến sự nghiệp cá nhân, mà còn là niềm hãnh diện chung của cả cộng đồng người Việt hải ngoại. Sau gần nửa thế kỷ định cư trên đất Mỹ, người Việt tị nạn đã đi từ những ngày đầu đầy gian nan, đến nay có đại diện trong những vị trí cao nhất của quốc phòng Hoa Kỳ.

Thành công của ông Hùng Cao tiếp nối trang sử vẻ vang, mà 7 vị Tướng gốc Việt trong Quân đội Hoa Kỳ đã từng khắc ghi – như một minh chứng sống động rằng, thế hệ con cháu Việt Nam, không những hòa nhập, mà còn góp phần quan trọng vào sức mạnh và uy tín của Hiệp Chủng Quốc.

Đây là minh chứng hùng hồn cho ý chí, nghị lực và trí tuệ của người Việt Nam: từ những mái lều tị nạn năm xưa, nay đã vươn tới đỉnh cao danh dự trong hàng ngũ lãnh đạo quốc phòng Hoa Kỳ. Một niềm vui, một niềm hãnh diện, không chỉ cho riêng cộng đồng Việt tại Mỹ, mà còn cho cả dân tộc Việt Nam trên khắp năm châu.

NHÂN DỊP NÀY, XIN ĐƯỢC ĐÍNH KÈM CHÂN DUNG 7 VỊ TƯỚNG MỸ GỐC VIỆT TRONG QUÂN ĐỘI HOA KỲ

image.png

1.- Thiếu Tướng Lương Xuân Việt – Vị tướng Mỹ gốc Việt nổi tiếng

Sinh năm 1965 tại Biên Hòa, con trai của Thiếu Tá Lương Xuân Đương thuộc đơn vị Thủy Quân Lục Chiến trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Sau khi tốt nghiệp cử nhân và thạc sĩ ngành Sinh học tại Đại học Nam California, ông gia nhập quân đội Hoa Kỳ. Năm 1987, ông được bổ nhiệm với cấp bậc Thiếu Úy và làm việc tại Bộ Binh, đồn trú tại Colorado. ng được chuyển sang Sư Đoàn 101 Biệt Kích Dù, lần lượt giữ các chức vụ đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, và lữ đoàn trưởng.

Trước khi được thăng cấp đại tá và được bổ nhiệm vào chức vụ lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 3, Sư Đoàn 101 Không Kỵ, ông Việt làm tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 505 Bộ Binh Nhảy Dù Hoa Kỳ vào năm 2005 và chiến đấu tại chiến trường Iraq với cấp bậc trung tá.

Sau khi thăng cấp đại tá, ông trở thành lữ đoàn trưởng và chiến đấu tại chiến trường Afghanistan. Năm 2012, ông được cử về đại học Stanford University để tham gia huấn luyện chính trị cao cấp.

Ông được chính phủ và Bộ Quốc Phòng thăng cấp chuẩn tướng Lục Quân Hoa Kỳ ngày 6 Tháng Tám, 2014 và trở thành tướng Mỹ gốc Việt đầu tiên trong quân đội Hoa Kỳ, làm phó tư lệnh Sư Đoàn Kỵ Binh Số 1 Hoa Kỳ, phụ trách hành quân tác chiến.

Tháng Năm, 2017, ông được thăng cấp thiếu tướng, làm phó tư lệnh Quân Đoàn 8 đóng tại Nam Hàn.

Ngày 28 Tháng Tám, 2018, ông được bổ nhiệm làm tư lệnh Lục Quân Mỹ tại Nhật, đóng quân tại căn cứ Camp Zama, kế nhiệm thiếu tướng James Pasquarette.

Tướng Lương Xuân Việt giải ngũ sau 34 năm trong quân đội Mỹ

image.png

2.- Thiếu Tướng Lapthe Châu Flora

Sinh năm 1962 tại Việt Nam trong một gia đình gốc Hoa, cha ông là thủy thủ trong đội Hải vận của Việt Nam Cộng hòa.

Khi ông hai tuổi, cha ông hy sinh, để lại mẹ ông và 6 người con. Lúc 11 tuổi, ông phải đi làm ở nhà máy để giúp mẹ nuôi sống gia đình.

17 tuổi, ông cùng người thân trốn sang Mỹ bằng thuyền. Rời Long An vào tháng Năm năm 1979, mất 5 ngày mới đến Indonesia và được cho lên bờ. Một năm sau, ông được nhập cư vào Mỹ, và sau đó được cặp vợ chồng Mỹ John và Audrey Flora nhận làm con nuôi.

Sau 20 năm, toàn bộ gia đình ông Thể đã đoàn tụ và đang sống khắp Mỹ.

Ông Thể được phong hàm Sĩ quan Lục quân năm 1988 từ trường Võ bị Quân sự Virginia. Năm 2011, ông nhận bằng cao học về nghiên cứu chiến lược tại Đại Học Chiến Tranh Lục Quân ở tiểu bang Pennsylvania.

Chuẩn tướng LapThe Flora, được thăng cấp Thiếu tướng tại một buổi lễ tại căn cứ Richmond của Vệ binh Quốc gia Virginia vào ngày 02-05-2020.

Ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở Bosnia, Kosovo và Afghanistan. Với thành tích này, ông Thể đã được trao giải thưởng về lãnh đạo mang tên Tướng Douglas MacArthur.

image.png

3.- Thiếu Tướng William H Seely III

Sinh ra tại Sài Gòn vào năm 1967, cha của ông là người Mỹ, là một nhà thầu xây dựng sân bay ở Cam Ranh và Đà Nẵng, và gặp mẹ của ông, người Việt Nam, ở Nha Trang.

Vào cuối năm 1970, gia đình ông chuyển về Mỹ, nơi ông lớn lên tham gia các hoạt động như bóng chày, bóng bầu dục và đấu vật.

Sau khi tốt nghiệp trường Wooster School vào năm 1985, ông theo học Đại học American University ở Washington, DC, và tốt nghiệp cử nhân ngành Quan hệ Quốc tế.

Sau đó, ông gia nhập Hải quân, được gửi đi học tại Đại học George Washington University, Washington, DC, thông qua chương trình NROTC vào năm 1989.

Ông tiếp tục học tại Oklahoma State University, National Intelligence University và Naval War College, và đạt bằng cao học.

Trong quá trình học, ông tham gia các khóa huấn luyện về sống sót, nhảy dù, đổ bộ, do thám, lặn, vũ khí và chiến thuật, cũng như tình báo tại các trường chỉ huy và chiến tranh.

Trong vai trò chỉ huy, từ năm 1990 đến 1992, ông là trung đội trưởng trung đội truyền tin của Tiểu Đoàn Do Thám 3.

Từ năm 2000 đến nay, ông đã đảm nhận nhiều vị trí chỉ huy và tình báo, tham gia các chiến dịch tại Kuwait, Afghanistan và Iraq.

Ông đã từng là chỉ huy trường huấn luyện tình báo và chỉ huy TQLC, giám đốc tình báo TQLC, và chỉ huy Lực Lượng Đặc Biệt tại Iraq.

Tướng Thủy Quân Lục Chiến Mỹ William H. Seely III vừa được thăng cấp thiếu tướng trong một buổi lễ diễn ra vào lúc 11 giờ sáng Thứ Sáu, ngày 31 tháng 7, tại căn cứ MacDill Air Force Base, Florida, trở thành thiếu tướng gốc Việt đầu tiên trong binh chủng này.

image.png

4.- Phó Đề Đốc Nguyễn Từ Huấn

Ông Nguyễn Từ Huấn chính là đứa con trai duy nhất sống sót trong một gia đình có 7 thành viên vì cha ông Đại tá Nguyễn Tuấn Quân lực Việt Nam Cộng hòa không đáp ứng yêu cầu của đội biệt kích và bị tên biệt kích cộng sản Nguyễn Văn Lém, còn gọi là Bảy Lốp, thảm sát dẫn đến việc Tướng Nguyễn Ngọc Loan tử hình Bảy Lốp trên đường phố Sài gòn.

Sau biến cố 1968, ông Huấn được người chú nuôi dưỡng và đến khi Sài Gòn sụp đổ năm 1975, ông tị nạn sang Hoa Kỳ.

Phó Đề Đốc Huấn hiện đang làm việc cho Bộ Tư lệnh Hệ thống Kỹ thuật Hải quân Mỹ (Naval Sea Systems Command – NAVSEA). Nhiệm vụ của ông là Tham mưu phó Bộ tư lệnh NAVSEA, đặc trách An ninh Mạng.

Vào ngày 5/6/19, ông Huấn được Tổng thống Donald Trump đề nghị thăng cấp Phó Đề đốc và đã được Ủy ban Quân sự Thượng viện Mỹ chuẩn thuận vào 27/06.

Ông Huấn đã đảm nhận những nhiệm vụ quan trọng như sĩ quan thử nghiệm về tính khả dụng của tàu USS Kitty Hawk tại Cơ sở sửa chữa tàu Yokosuka; Sĩ quan phụ trách, Cơ sở sửa chữa tàu, Biệt đội 113.

Ngoài ra, ông từng là Giám đốc điều hành / Kỹ sư trưởng tại Văn phòng phụ trách về thiết bị nổ cải tiến điều khiển bằng sóng vô tuyến (CREW) tại Iraq, hỗ trợ Lực lượng đặc nhiệm Troy, Quân đoàn 18 và Quân đoàn V; Kỹ sư CREW cho Lực lượng đặc nhiệm Paladin và từng công tác tại Afghanistan.

Trong số các thành tựu ông đạt được có Huân chương danh Dự Legion of Merit, Huy chương Bronze Star cùng nhiều huy chương danh dự khác của hải quân và thủy quân lục chiến. Huấn đã đảm nhận những nhiệm vụ quan trọng như sĩ quan thử nghiệm về tính khả dụng của tàu USS Kitty Hawk tại Cơ sở sửa chữa tàu Yokosuka; Sĩ quan phụ trách, Cơ sở sửa chữa tàu, Biệt đội 113.Ô

Ngoài ra, ông từng là Giám đốc điều hành / Kỹ sư trưởng tại Văn phòng phụ trách về thiết bị nổ cải tiến điều khiển bằng sóng vô tuyến (CREW) tại Iraq, hỗ trợ Lực lượng đặc nhiệm Troy, Quân đoàn 18 và Quân đoàn V; Kỹ sư CREW cho Lực lượng đặc nhiệm Paladin và từng công tác tại Afghanistan.

Trong số các thành tựu ông đạt được có Huân chương danh Dự Legion of Merit, Huy chương Bronze Star cùng nhiều huy chương danh dự khác của hải quân và thủy quân lục chiến.

Ông Huấn là sĩ quan gốc Việt đầu tiên mang cấp Phó đề đốc hải quân Hoa Kỳ, và là người Việt thứ tư mang cấp tướng trong quân lực Hoa Kỳ, trước đó có Thiếu tướng Lương Xuân Việt, thuộc Lục quân Hoa Kỳ.

image.png

5.- Chuẩn Tướng Danielle J Ngô

Xuất thân từ Việt Nam, lớn lên ở Massachusetts, Danielle Ngô là phụ nữ gốc Việt đầu tiên được bổ nhiệm làm Chuẩn Tướng trong quân đội Mỹ, là một nhân vật có kiến thức và kỹ năng về văn hóa và võ thuật. Cô gia nhập Lục quân Hoa Kỳ vào năm 1990 và phục vụ trong ngành Công Binh. Sau khi hoàn thành khoá huấn luyện sĩ quan, cô tốt nghiệp vào năm 1994 với cấp bậc Thiếu Uý.

Danielle Ngô có bằng Cử nhân Tài Chánh từ đại học Massachusetts và hai bằng Cao học từ trường Command and General Staff College cùng đại học Georgetown University. Trong quá trình phục vụ, cô đã làm việc trong nhiều đơn vị khác nhau như Lữ đoàn 62 Công Binh, Lữ đoàn 20 Công Binh Nhảy Dù, Lữ đoàn 37 Công Binh Nhảy Dù, Phân đội 610 Công Binh, Tiểu đoàn 299 Công Binh Chiến Đấu, Sư đoàn 1 Bộ Binh và Tiểu đoàn 52 Công Binh.

Danielle Ngô đã tham gia Chiến Dịch Iraqi Freedom I và Chiến Dịch Enduring Freedom Afghanistan. Cô cũng đã làm Sĩ quan thực tập tại Bộ Tham Mưu Liên Quân tại Hoa Thịnh Ðốn.

Tháng 9 năm 2013, căn cứ Không quân Hoa Kỳ ở núi Cheyenne Mountain, Colorado bị thiệt hại do mưa lũ và sạt lở. Tiểu đoàn 52 Công Binh dưới sự chỉ huy của Trung tá Ngô đã đóng góp quan trọng trong việc bảo vệ và khôi phục căn cứ này. Tháng 2 năm 2014, Danielle Ngô đã rời chức vụ Tiểu đoàn trưởng để sang Brusse ls, Bỉ, làm sĩ quan phụ tá cho Chủ tịch Uỷ ban Quân sự khối NATO.Năm 2015, Danielle Ngô đã trở thành phụ nữ gốc Việt đầu tiên được thăng chức lên Đại tá trong binh chủng Công Binh của Lục Quân Hoa Kỳ.

Năm 2017, Đại tá Danielle Ngô đã chính thức được bổ nhiệm làm Lữ đoàn trưởng của Lữ đoàn 130 Công Binh, hoạt động tại khu vực Thái Bình Dương. Lữ đoàn 130 có một lịch sử lâu đời, xuất phát từ Trung đoàn Công Binh 1303 đã tham gia các chiến trường ở Châu Âu và Thái Bình Dương trong Thế Chiến II. Hiện nay, Lữ đoàn 130 là một trong những đơn vị Công Binh hàng đầu của Lục Quân tại khu vực Thái Bình Dương. Vào tháng 6 năm 2019, Danielle Ngô đã được thăng cấp lên Chuẩn tướng.

Danielle Ngô đã được trao nhiều loại huy chương danh dự cao quý như: Huy chương Sao Đồng (2), Huy chương Dịch vụ Xứng đáng Quốc phòng, Huy chương Dịch vụ Xứng đáng, Huy chương Khen ngợi Liên ngành, Huy chương Khen ngợi Quân đội (3), Huy chương Thành tựu Liên ngành (3), Huy chương Thành tựu Quân đội (5), Huy chương Đơn vị Liên ngành Xứng đáng (2), Huy chương Đơn vị Can đảm, Huy chương Đơn vị Xuất sắc Quân đội (3), Huy chương Thành tựu Dự bị Quân sự, Huy chương Dịch vụ Quốc phòng Quốc gia (2)… và một số huy chương danh dự khác.

image.png

6. Phó Đề Đốc Vũ Thế Thùy Anh

Cha của Thùy Anh là cựu Ðại uý Hải quân VNCH Vũ Thế Hiệp. Năm 1975, khi cô mới 7 tuổi, cả gia đình cô đã di tản sang Mỹ để trốn chế độ cộng sản.

Sau khi tốt nghiệp ngành Dược tại đại học University of Maryland vào năm 1994, Thùy Anh làm việc tại đại học Johns Hopkins University một thời gian. Là chị cả trong gia đình, cô có ba em trai đều trở thành Bác Sĩ: Vũ Thế Duy Anh (BS Quang tuyến); Vũ Thế Tuấn Anh (BS Cấp cứu); Vũ Thế Quốc Anh (BS Nhãn khoa). Riêng Thùy Anh, là người duy nhất trong gia đình theo đuổi sự nghiệp quân đội như cha.

Vào năm 2003, Dược sĩ Thùy Anh gia nhập U.S. Public Health Service (PHS) Commissioned Corps và trở thành một sĩ quan y tế trong binh chủng Hải Quân. PHS, mặc dù hiện nay thuộc Bộ Y Tế và Dịch vụ Nhân sinh (Department of Health and Human Services), nhưng tổ chức của nó giống như quân đội vì xuất phát từ các bệnh viện Hải Quân Mỹ từ thế kỷ 18 do Tổng thống John Adams khởi xướng.

PHS được thành lập từ năm 1798, và từ năm 1889, nó trở thành một tổ chức quân đội với chuỗi các bệnh viện Hải Quân tại các thành phố cảng như Boston, Charleston, New Orleans… để kiểm soát dịch bệnh. Các thành viên của PHS là những chuyên gia y tế như bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, y tá… được huấn luyện để trở thành sĩ quan phục vụ cộng đồng trong các tình huống khẩn cấp như thiên tai, dịch bệnh…

PHS chịu trách nhiệm cách ly và kiểm soát bệnh truyền nhiễm trước khi lan rộng ra khắp cả nước. Họ đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc đại dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918. Hiện nay, PHS đang hợp tác với CDC (Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh) để đối phó với dịch COVID-19.

Sau 12 năm phục vụ trong PHS, Thùy Anh được thăng cấp lên Ðại Tá vào năm 2015. Vào tháng 6 năm 2019, cô được thăng cấp Rear Admiral (Lower Half), tương đương với Phó Ðề Ðốc Hải quân, tương đương với cấp Chuẩn Tướng trong quân đội.

image.png

7.- Chuẩn Tướng John R Edwards

Sinh năm 1972 tại Sài Gòn, John Edwards đã định cư ở Mỹ vào tháng Tư năm 1975. Ông sinh ra trong một gia đình có hai chị em.

Cha ông là một viên chức chính phủ Hoa Kỳ, từng làm việc cho cơ quan DAO (Defense Attaché Office), chuyên hỗ trợ về quân sự cho VNCH trong thời kỳ 1973-1975.

Trước đó, cha ông đã phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ và kết hôn với mẹ ông vào năm 1968.

John Edwards tốt nghiệp ngành kỹ sư điện toán và hoàn thành chương trình đào tạo sĩ quan dự bị tại Đại học Hawaii vào năm 1995. Từ năm 2000 đến 2013, ông liên tục tham gia các khóa đào tạo chuyên môn và đạt ba bằng cao học hàng đầu về khoa học hàng không quân sự tại các trường không quân và đại học danh tiếng ở Mỹ.

Năm 2014, ông được thăng cấp lên đại tá khi đảm nhận chức vụ tham mưu trưởng của Nhóm Đổi Mới Tham Mưu Liên Quân (Joint Staff Innovation Group) tại Bộ Quốc Phòng.

Trong sự nghiệp quân sự, ông đã bay tổng cộng 2.200 giờ trong 237 nhiệm vụ chiến đấu, điều khiển thành thạo các loại máy bay quân sự như B-52, T-39, T-37, và máy bay T-43 của Air Force One chuyên chở tổng thống và quan chức cao cấp của Mỹ.

Chuẩn Tướng John Edwards hiện đang sống tại Washington, D.C., cùng với vợ và ba con.

 Kq Le Van Hai chia sẻ


Tin Vui Lịch Sử: Vẻ Vang Dân Việt!

 

(Hình: Buổi họp phê chuẩn tại Thượng Viện Hoa Kỳ)

TIN VUI LỊCH SỬ: VẺ VANG DÂN VIỆT!  – LỜI CHÚC MỪNG! MỘT TRONG NHỮNG THÀNH QUẢ NGƯỜI VIỆT 50 NĂM!

Ngày hôm qua, 1 tháng 10, 2025, tại Washington D.C., một trang sử mới đã được ghi vào dòng sử Việt nơi hải ngoại: Hải Quân Đại Tá Hùng Cao, đã chính thức được Thượng viện Hoa Kỳ phê chuẩn, giữ chức vụ Thứ Trưởng Bộ Hải Quân Hoa Kỳ! với kết quả biểu quyết 52 thuận – 45 chống.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một người gốc Việt đảm nhận chức vụ dân sự cao cấp số 2 trong Bộ Hải Quân Hoa Kỳ – chỉ dưới Bộ Trưởng Hải Quân. Từ một thuyền nhân, sĩ quan Hải quân tận tụy, từng là thuyền trưởng và thợ lặn đặc nhiệm, nay ông đã bước vào hàng ngũ lãnh đạo cao cấp nhất của quốc phòng Hoa Kỳ.

Ý nghĩa lịch sử

Thành công của ông Hung Cao không chỉ là niềm vinh quang cho riêng ông, mà còn là biểu tượng cho cả cộng đồng người Việt tị nạn, sau 50 năm định cư trên đất Mỹ. Từ những căn lều trong trại tạm cư năm xưa, người Việt đã hòa nhập, trưởng thành, và hôm nay đã góp mặt trong những vị trí quan trọng nhất của chính quyền và quân đội Hoa Kỳ.

Đây cũng là sự tiếp nối vẻ vang truyền thống, mà 7 vị Tướng gốc Việt trong Quân lực Hoa Kỳ đã từng khắc ghi: chứng minh rằng thế hệ con cháu Việt Nam không những hội nhập, mà còn góp phần trực tiếp vào sức mạnh và uy tín của Hiệp Chủng Quốc, Quê Hương thứ hai!

Niềm hãnh diện dân tộc

Sự kiện này vang dội như một lời khẳng định: Người Việt Nam, dù nơi đâu, vẫn có thể vươn tới những đỉnh cao danh dự trong chính trường và quân sự quốc tế. Đây là một tin vui lớn, không chỉ cho cộng đồng Việt tại Hoa Kỳ, mà còn cho toàn thể dân tộc Việt Nam, trên khắp năm châu. Một niềm hãnh diện, một niềm tin, một minh chứng sống động cho ý chí, nghị lực, và trí tuệ của dân Việt! Nếu ở dưới chế độ độc tài đảng trị, sẽ không có thành quả, tuyệt vời như thế!

Kq Le Van Hai chia sẻ


Tin Vui Đánh Dấu Lịch Sử Cho Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại

 


HẢI QUÂN ĐẠI TÁ HÙNG CAO ĐÃ CHÍNH THỨC TRỞ THÀNH THỨ TRƯỞNG GỐC VIỆT ĐẦU TIÊN CỦA BỘ HẢI QUÂN HOA KỲ!
Kq Le Van Hai chia sẻ

Tin Vui Đánh Dấu Lịch Sử Cho Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại: Hải Quân Đại Tá Hùng Cao, Đã Chính Thức Trở Thành Thứ Trưởng Gốc Việt Đầu Tiên, Của Bộ Hải Quân Hoa Kỳ!

WASHINGTON (1/10/2025) – Một dấu mốc lịch sử vừa được ghi nhận: Hải Quân Đại Tá Hung Cao. Hôm qua, đã chính thức được Thượng viện Hoa Kỳ phê chuẩn giữ chức vụ Thứ Trưởng Bộ Hải Quân Hoa Kỳ, với tỷ lệ phiếu 52 thuận – 45 chống.

Đây là vị trí dân sự cao cấp số 2 trong Bộ Hải Quân, chỉ sau Bộ Trưởng Hải Quân. Ông Hung Cao, một sĩ quan Hải quân gốc Việt đã nghỉ hưu, từng là thuyền trưởng và thợ lặn, được Nhà Trắng đề cử vào tháng Hai và sau đó chờ đợi phê chuẩn qua nhiều vòng điều trần.

Với sự chuẩn thuận này, ông Cao trở thành người gốc Việt đầu tiên đảm nhận một vị trí cao như vậy trong Bộ Hải Quân Hoa Kỳ – mang ý nghĩa đặc biệt không chỉ cho cá nhân ông, mà còn là niềm hãnh diện chung của cộng đồng người Việt tị nạn trên toàn thế giới.

Hiện nay, trong Ban Thư ký Hải Quân, chỉ có Bộ Trưởng John Phelan (được phê chuẩn hồi tháng Ba) và Thứ Trưởng Hung Cao là hai quan chức được Thượng viện chính thức xác nhận. Các vị trí còn lại vẫn do quan chức tạm quyền đảm trách.


Sự kiện này diễn ra trong bối cảnh Quốc hội Hoa Kỳ còn đang đối mặt với nhiều tranh luận gay gắt về ngân sách và nguy cơ chính phủ đóng cửa, cho thấy nỗ lực vượt khó của ông Hung Cao đã được công nhận.

Đây là một tin vui lớn, khẳng định sự thành công và đóng góp không ngừng của người Mỹ gốc Việt trong dòng chính chính trị và quốc phòng Hoa Kỳ.

Chúc Mừng!

Kq Le Van Hai chia sẻ


Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay - Đoàn Chuẩn & Từ Linh -Tuấn Ngọc -HKN




GỬI GIÓ CHO MÂY NGÀN BAY
Đoàn Chuẩn & Từ Linh

Xuất xứ bài “Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay” của Đoàn Chuẩn

Vào đầu thập niên 50, một nhà tỷ phú trẻ từ Hải Phòng lên tận nhà hát lớn Hà Nội để xem đoàn hát Sài Gòn ra diễn. Sau đêm đầu, chàng đã ở lại và xem tiếp những đêm sau chỉ vì đem lòng hâm mộ cô ca sĩ chính của đoàn: ca sĩ Mộc Lan.

Khi đó ca sĩ Mộc Lan đang là một ngôi sao lớn của cả nước, không chỉ đẹp, đoan trang, hiền lành mà cô còn nổi tiếng bởi đang sống rất hạnh phúc bên chồng cũng là một ca sĩ hàng đầu: ca sĩ Châu Kỳ. 2 người từng được mệnh danh là cặp tài tử giai nhân, trai tài gái sắc.

Trở lại câu chuyện Công Tử đất Cảng Hải Phòng, khi cô ca sĩ về SàiGòn, vì tương tư, anh cũng liền mua vé bay vào tìm cách gặp gỡ. Nhưng vì biết họ đang yên bề gia thất, hạnh phúc bên nhau nên chàng dùng kế “mưa dầm thấm lâu”.

Nhà tỷ phú đã đặt khoản tiền rất lớn cho một tiệm hoa trên đường Nguyễn Huệ với điều kiện nơi đây phải làm theo lời đề nghị bí mật của anh. Từ ngày ấy, mỗi sáng khi mở cửa nhà, cô ca sĩ đều nhận được một bó hoa hồng tươi thắm (trị giá món quà lãng mạn đó bằng 3 bữa ăn cho một gia đình trung lưu thuở ấy).

Đều đặn như thế mà ca sĩ Mộc Lan vẫn không hề biết tên người hâm mộ mình, cũng như mục đích của người tặng. Tuy nhiên, với tâm hồn nhạy cảm của người nghệ sĩ, cô dần quyến luyến với người vô hình và trở nên nôn nóng chờ đợi đêm qua thật nhanh để sáng sớm được ôm bó hoa thơm ngây ngất.

Suốt 3 tháng trời, không thể chờ đợi được nữa, cô liền ra tiệm hoa Nguyễn Huệ và nhờ chuyển một bức thư cho người “vô danh, ẩn tích” với những lời cám ơn chân thành và một chút ẩn ý ngọt ngào.

Như mưa gặp bão, khi nhận được những lời nói mà chàng hằng mong đợi, ngay trong đêm đó chàng công tử đã thức suốt để mơ mộng, thả hồn theo gió vào Nam, ngất ngây với tâm hồn kẻ đa tình và sáng sớm ra Bưu điện để gởi nhanh cho nàng một lá thư.

Trước khi dán phong thư, chàng còn không quên xịt ít nước hoa vào và hôn nhẹ lên tờ giấy poluya màu xanh (loại giấy mỏng, dùng viết thư tình, chỉ đến khi thời đại computer ra đời người ta mới quên dùng giấy này để viết thư)

Nhận thư, ca sĩ Mộc Lan vô cùng bàng hoàng sững sờ, bởi trong đó không phải là những lời nói tỏ tình, yêu đương mà chỉ có một bài hát.

Các khuông nhạc được kẽ bằng tay cẩn thận, lời hát được viết nắn nót trên nền tờ giấy mỏng tanh tình tứ “Gửi bướm muôn màu tìm hoa, gửi thêm ánh trăng, màu xanh lá thư, về đây với thu trần gian…” chứng tỏ người theo đuổi nàng bấy lâu rất thật tình và gửi gắm hết tâm huyết thương mến.

Nàng còn ngạc nhiên hơn khi biết bài hát được sáng tác chỉ trong một đêm và viết dành riêng tặng cho nàng. Điều đặc biệt, tác giả tình khúc ấy là người không chỉ nổi tiếng giàu có nhất ở đất Cảng, khắp Bắc Kỳ, mà khi đó ông cũng đang là một nhạc sĩ lừng danh với tên gọi “ông Vua Slow – Đoàn Chuẩn” không ai không biết tên tuổi.

Ngay hôm sau, trên sân khấu Sài Gòn, ca sĩ Mộc Lan đã hát vang “Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay” của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (1924–2001).

Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay


Chỉ trong một thời gian ngắn bài hát trở nên nổi tiếng với những giai điệu du dương, lời hát êm ái, sâu sắc và lãng mạn. Nhưng cũng từ khi câu chuyện tình nghệ sĩ này “thanh thiên, bạch nhật” thì mái ấm hạnh phúc của gia đình trai tài, gái sắc Mộc Lan – Châu Kỳ cũng “gửi gió cho mây ngàn bay”. Bởi ít lâu sau nàng đã ngã vào vòng tay của chàng công tử đa tình đất Cảng.

Tran Nang Phung chia sẻ

Trân trọng 
NHHN 

Kính mời quý vị thưởng thức




Truyện Ngắn - Lời Hứa Bên Sông

 


Truyện Ngắn - LỜI HỨA BÊN SÔNG 
Điệp Mỹ Linh

Trên đoạn đường ngắn từ cư xá sĩ quan độc thân trở lại trạm gác, khi đi ngang đoàn chiến đỉnh đang cặp nơi cầu tàu, Ngọc chợt nghe tiếng hát văng vẳng trong không gian tĩnh lặng của một buồi chiều:

“There is a river
called the River of No Return.
Sometimes it's peaceful
and sometimes wild and free…” (1)

Tình khúc này gợi lại trong hồn Ngọc hình ảnh thê thảm sau những giờ phút êm đềm/ hạnh phúc khi Bố Mẹ đưa bé Ngọc đi xem xi-nê, phim River Of No Return.

Lúc đó, Ngọc chỉ là đứa bé con, được Bố cầm tay cho khỏi lạc; Mẹ mang thai gần ngày sinh.

Chiều nay, bất ngờ nghe lại tình khúc River Of No Return, Ngọc nhìn quanh, chợt thấy nơi cầu tàu, Hải Quân đại úy Taylor đang ôm Guitar, ngồi trên chiếc Cammand, vừa đàn vừa hát. Tiếng hát của Taylor khơi dậy sự hãi hùng, nỗi đau thương và niềm uất hận trong hồn Ngọc một cách dữ dội và tàn ác không khác chi tiếng nổ của mấy trái lựu đạn do Việt cộng “thảy” vào đám người vừa từ rạp xi-nê đi ra!

Mấy tiếng nổ kinh hoàng vừa vang lên, nhiều thân người gục xuống; nhiều người tháo chạy trong tiếng gào khóc, réo gọi nhau! Ngọc nghe giọng hốt hoảng của Bố:

- Mẹ bé Ngọc đâu? Mẹ bé Ngọc đâu?

Ngọc sợ quá, khóc thét lên.

Tối đó Ngọc khóc thét vì hãi sợ tiếng nổ và cảnh hỗn loạn! Vài ngày sau, Ngọc khóc âm thầm trong không gian buồn thảm khi Ngọc thấy Mẹ nằm trong quan tài; bụng của Mẹ vẫn còn căn lớn!

Dòng ký ức đau thương của Ngọc đến đây cũng là lúc Taylor hát đến câu:

“…down the river of no return.
Wail-a-ree, wail-a-re-e-ee… (2)

Bao nhiêu năm trước, khi Marilyn Monroe hát trong phim xi-nê, Ngọc chỉ thích giai điệu êm đềm, thiết tha của dòng nhạc chứ chưa hiểu rõ được lời ca. Sau khi học Tú Tài ban Anh văn, trình độ Anh văn của Ngọc rất khá. Bây giờ, nghe tiếng hát của Taylor, tự dưng niềm thương nhớ người Mẹ trẻ và đứa em chưa được chào đời như lời gọi sâu thẳm từ tiềm thức, khiến cho những bước chân vô hồn của Ngọc đi dần về hướng bờ sông, đến gần đoàn chiến đỉnh, rồi đứng yên, lắng nghe!

Nhân dáng của Ngọc nơi cầu tàu làm Taylor ngạc nhiên đến không tin vào thị giác của chàng! Tin làm sao được khi mà dáng người thanh cao, đồng phục trắng, khuôn mặt xinh đẹp, mái tóc dài và đôi mắt ươn ướt của Ngọc lại không khác chi nhân dáng của cô học trò mà cách nay vài hôm, khi lái xe Jeep qua khỏi cầu, tình cờ Taylor thấy cô đang “loay hoay” gỡ tà áo dài ra khỏi giây “sên” xe đạp – mà gỡ không được! Taylor dừng xe Jeep, hỏi thăm, thấy mắt cô ửng đỏ như sắp khóc.

Taylor rời xe Jeep, gỡ giúp vạt áo dài cho cô.

Nếu người đời cho rằng “love at first sight” có thật, thì, ngay hôm giúp cô gái gỡ tà áo, Taylor tự biết rằng chàng không thể xua đuổi khuôn mặt diễm kiều và ánh mắt buồn buồn của cô gái này ra khỏi trái tim đa cảm của chàng! Sau khi tự giới thiệu, Taylor hỏi tên, nhưng theo cách phát âm của nàng, không thể nào Taylor có thể lập lại được. Taylor đưa cuốn sổ tay, nhờ nàng viết tên và địa chỉ của nàng, với dụng ý sẽ đến thăm nàng. Cô gái lắc đầu, bảo chỉ có thể viết tên Ngọc, không dám cho địa chỉ; vì gia đình nghiêm lắm.

Ngọc biết trước rằng, khi về nhà, thế nào bà Dì “ghẻ” ác độc của Ngọc cũng dành cho nàng một trận đòn về tội làm rách tà áo dài! Vì lo sợ, cho nên, trước khi lên xe đạp, Ngọc nhìn Taylor bằng ánh mắt biết ơn nhưng rất buồn. Chính ánh mắt buồn của Ngọc làm cho tâm hồn của Taylor xao xuyến khôn nguôi! Sau khi Ngọc đạp xe đi, Taylor quyến luyến nhìn theo, lòng thầm ước sẽ được gặp lại nàng.

Bây giờ, bất ngờ thấy cô gái mặc đồng phục trắng đang đứng bên bờ sông An Giang, nghĩ rằng có thể niềm mơ ước của chàng trở thành hiện thực, Taylor dựng Guitar cạnh pháo tháp rồi lên bờ, đi về hướng cô gái.

Lúc này Ngọc cũng thấy quân nhân Hoa Kỳ này trông quen quen. Khi nhận ra chữ Taylor trên miệng túi áo, Ngọc mỉm cười, cúi chào. Sau vài câu xã giao và nhận ra nhau, Taylor hỏi:

- Cô bé vào căn cứ Hải Quân có việc gì?
- Tôi đem thức ăn vào cho anh Thuận – con riêng của bà Mẹ kế của tôi – vì anh ấy sắp đi hành quân. Khi trở ra cổng gác, nghe ai hát tình khúc River Of No Return thì những kỷ niệm đau thương trong tôi chợt sống lại. Tôi muốn biết ai đang hát bài đó; vì đó là bài “ruột” của tôi.

Vừa nhìn Ngọc với anh mắt thiết tha Taylor vừa nói:

- Rất tiếc vô tình tôi đã gợi lại kỷ niệm buồn của cô. Nếu có cơ hội, tôi sẽ rất vui để đàn và hát cho cô nghe. Tiếc rằng trung úy Thuận và tôi sắp đi hành quân; hai tuần nữa tôi sẽ mãn nhiệm kỳ, trở về Hoa Kỳ.
- Chúc anh nhiều may mắn. Có lẽ anh vui lắm vì sắp mãn nhiệm kỳ chiến đấu trên đất nước tôi.
- Cảm ơn lời chúc lành của cô. Nếu trước đây vài hôm, cô nói với tôi câu ấy thì hoàn toàn đúng. Nhưng, từ hôm gỡ hộ tà áo dài của cô ra khỏi giây “sên” xe đạp cho đến nay thì câu nói ấy không đúng nữa.
- Tại sao?

Taylor chưa kịp đáp lời của Ngọc thì đã nghe tiếng Thuận – có vẻ rất gay gắc khi thấy Ngọc đang nói chuyện với một người Mỹ – phát ra từ nhóm quân nhân đang đi gần đến cầu tàu:

- Ngọc! Đi về!

Ngọc vội nói “Good bye” với Taylor. Taylor ngạc nhiên:

- Cô bé ơi! Tại sao cô có vẻ sợ?
- Tôi… tôi không được phép nói chuyện hoặc làm quen với người ngoại quốc.
- Tại sao?
- Dài dòng lắm, tôi không thể giải thích được.
- Tôi muốn làm quen với cô.
- Sorry! Không được đâu. Bye!

Ngọc xoay bước. Trong giây phút bồng bột, Taylor không nén được tình cảm, nói vói theo:

- Cô bé ơi! “Rever Of No Return” but I will return!

Lời hứa hẹn của Taylor khiến Thuận nhận thức được rằng Ngọc không còn bé nữa!

Thuận nghĩ đến trung úy Ngân – bạn cùng khóa với Thuận. Thuận tự hứa sẽ tìm cơ hội để “hai đứa nó” quen nhau. Bây giờ phải ngăn Taylor trước, Thuận bước đến gần, khẻ nói:

- Đại úy Taylor! Ông đừng nên tìm cách gặp em tôi.
- Tại sao?
- Theo phong tục của đất nước tôi, những thiếu nữ chưa lập gia đình, thuộc vào những gia đình nề nếp, lễ nghĩa, có giáo dục không bao giờ được phép nói chuyện hoặc làm quen với người ngoại quốc.
- Tôi không hiểu gì cả.
- Ông không cần hiểu. Tôi khuyên ông, khi nào buồn, nhớ nhà, đến “bars” mà giải khuây.
- Tôi không muốn giải khuây. Tôi chỉ muốn làm theo ước vọng của trái tim tôi.

Chưa kịp đáp lời Taylor, chợt thấy thiếu tá Quang – Chỉ Huy Trưởng giang đoàn –
đang bước xuống chiếc Command, Thuận và Taylor cũng bước theo.

******

Đoàn chiến đỉnh giang hành chầm chậm, gần bờ. Nhìn dòng An Giang bát ngát trong bóng hoàng hôn chập chùng, tự dưng Taylor cảm thấy nhớ những ngày thơ dại bên dòng Mississippi bao la. Bất giác Taylor “ngân nga” nho nhỏ:

with waters so deep and wide.
My thoughts of you keep rising
just like an evening tide.
I'm just like a seagull
that's left the sea...”(4)

Trong khi Taylor thương nhớ dòng sông hùng vỹ nơi quê nhà thì đoàn chiến đỉnh rẽ vào sông Hậu, gianh hành đến sông Cái Lớn, tiến về Tắc Cậu để vào Kinh Thứ.

Suốt thời gian đoàn chiến đỉnh giang hành, thiếu tá Quang – không nón sắt/không áo giáp – đứng trên chiếc Command, tay trái cầm ống liên hợp, ép vào tai; tay phải chống vào mạn sườn.

Khi đoàn chiến đỉnh giang hành đến gần đồn Thứ Chín, nhiều tiếng nổ kinh hoàng vang lên rồi nhiều khối nước tung lên cao/đổ ào xuống đoàn chiến đỉnh. Đoàn chiến đỉnh phản pháo ngay. Quang quan sát chiến địa thật nhanh và nhận ra nơi phát xuất tiếng B40/B41 là khúc quanh ngặc, bên phải của đoàn chiến đỉnh; vừa khi đó, Quang nghe từ máy truyền tin: “Hai lần tư tưởng Québec – danh hiệu truyển tin của thiếu tá Quang – Hai lần tư tưởng Québec! Đây, Hotel! Métro ‘đi phép dài hạn’ rồi!” (5) Quang giận dữ, hét lên trong ống liên hợp: “Tất cả cho ‘gà cồ’ ‘gáy’ hướng 3 giờ. Nghe rõ, trả lời?” Âm vang của súng cối từ đoàn chiến đỉnh át hẳn tiếng trả lời. Quang ra lệnh đoàn chiến đỉnh “ủi” thẳng vào nơi phát ra tiếng B40/B41. Hỏa lực từ đoàn chiến đỉnh được xử dụng tối đa.

Trời tối dần. Quang ra lệnh bắn hỏa châu. Nhờ ánh hỏa châu, các xạ thủ từ đoàn chiến đỉnh tác xạ chính xác vào toán Việt cộng đang “chém vè”.

Thấy Việt cộng “chém vè” và tiếng B40/B41 dịu dần, Quang ra lệnh đoàn giang đỉnh ngưng tác xạ; vì ngại đạn lạc trúng các đơn vị bạn đang đánh bọc hậu. Gác ống liên hợp xong, Quang mới thấy Taylor đang ôm chân và máu loan trên sàn chiếc Command.

******

Vừa bước đi Taylor vừa lắc đầu như chán nản/như không tin vào những gì chàng đã và đang thấy! Tin sao được khi mà, thời còn chiến tranh, những thành phố miền Nam Việt Nam mà chàng đã đi qua – dù thường xuyên bị “Vi-Ci” pháo kích và đặt chất nổ để khủng bố – vẫn vui tươi, đầy sức sống; còn bây giờ, sau khi miền Nam được “giải phóng”, tại sao Taylor chỉ thấy nụ cười hớn hở phô hai hàm răng vẩu
trên khuôn mặt sạm đen của những người mặc quân phục màu cứt ngựa, đội nón cối, hoặc nón tai bèo, chân mang “dép râu”; còn thường dân thì gầy còm và mặt ai trông cũng hốc hác như thiếu ăn, mất ngủ?

Quanh Taylor là sự tiêu điều toàn diện! Sự tiêu điều thể hiện trên từng bộ quần áo vá víu trên tấm thân gầy đét của người dân; trên những đôi chân trần; trên những gánh hàng rong chỉ “loe ngoe” vài trái bắp/trái ổi hoặc mấy bó rau èo uột. Sân trường thưa thớt học trò; vì tất cả phải bươn chải kiếm sống và cũng vì chính sách “kê khai lý lịch” cho nên con của “Ngụy quân Ngụy quyền” không được đi học!
Qua sách báo, Taylor hiểu, tất cả sĩ quan và công chức của “Ngụy” đều bị “Vi-Ci” đày đọa trong những nhà tù được ngụy danh là “trại cải tạo”; còn hạ sĩ quan và binh sĩ thì sao? Cả một quân lực hùng hậu như vậy mà nay tất cả “biến” đi đâu?

Đang bị phân tâm, Taylor thoáng giật mình vì tiếng thét của một phụ nữ vang lên.

Taylor quay nhìn về hướng phát ra tiếng thét và thấy một tên “Vi-Ci” đang dằn co với một bà bán hàng rong; vì bà này không có giấy phép “đăng ký kinh doanh” mà lại không chịu thi hành thủ tục “đầu tiên” (tiền đâu)! Cả hai đều lớn tiếng và xỉa ngón tay trỏ vào nhau.

Bất ngờ tên “Vi-Ci” gạc mạnh tay của bà bán hàng khiến bà té xuống. Trong khi Taylor giận dữ, vừa quát “Hey! Stop it!” vừa cố đi nhanh đến bên bà bán hàng – nhưng vì chân bị thương, đi nhanh không được – thì tên “Vi-Ci” đá thúng xôi của bà khiến xôi đổ vươn vải trên nền đất. Và, trước ánh mắt kinh ngạc của Taylor, đám trẻ con từ trong hẽm nhỏ “ùa” ra, chụp nhanh mớ xôi, chạy vào hẽm, vừa cười vừa ăn!

Thấy một người “nước ngoài” đang đi đến, tên “Vi-Ci” đi nhanh như chạy trốn.

Taylor khom người đỡ bà bán hàng dậy, giọng dịu dàng:

- Bà bị đau ở đâu? Bà cần đi bác sĩ hay bệnh viện không?

Khi hỏi hai câu đó Taylor cảm thấy hơi xốn xang trong lòng; vì nghĩ rằng làm thế nào bà bán hàng hiểu được. Nhưng, bà bán hàng vừa khóc tức tưởi vừa đáp:

- Cảm ơn ông. Nhưng, cơm chúng tôi còn không có mà ăn thì làm thế nào tôi có thể đi bác sĩ hoặc bệnh viện được!
- Một người nói tiếng Anh khá như bà mà tại sao phải đi bán hàng rong?
- Sau 30 tháng Tư 1975, mọi tầng lớp xã hội miền Nam Việt Nam, cũng như mọi sự việc trên đất nước tôi đều đảo ngược hết rồi ông ạ!
- Thế bà là người miền Nam, đúng không?

Bà bán hàng vừa quẹt nước mắt vừa gật đầu. Taylor lấy hai tờ $20.00 Mỹ kim, đưa cho bà:

- Đây, $40.00 Mỹ kim, tôi mua tất cả thức ăn trong gánh của bà.
Biết giá trị của 40 Mỹ kim vào thời bao cấp – thời mà hằng ngày, mỗi gia đình “Ngụy” chỉ biết ăn bo bo thay cơm – nhưng bà bán hàng cũng vẫn lắc đầu:
- Cảm ơn ông. Nhưng xôi đổ hết rồi, ông mua mớ lá chuối và gióng gánh này để làm gì?
- Không. Không. Tôi không lấy bất cứ vật gì. Bà giữ tất cả. Tôi chỉ muốn trả tiền cho mớ “cơm” bị đổ.
- Xôi bị đổ không phải lỗi của ông, tại sao ông phải đền tiền? Cảm ơn ông, nhưng tôi không thể nhận tiền của ông.

Không thể nào Taylor hiểu được rằng bà bán hàng được nuôi dạy trong một gia đình theo nền giáo dục xưa: “Giấy rách phải giữ lấy lề” và “Đói cho sạch rách cho thơm”. Vì không hiểu cho nên Taylor bị mặc cảm. Taylor thầm chửi lũ phản chiến Mỹ và lũ phản chiến tại Saigon. Taylor tự hỏi, có phải hệ lụy về việc Hoa Kỳ rút quân khỏi miền Nam, để “Vi-Ci” đem tất cả oán thù, đau thương và thảm khốc “trút” lên đầu người dân miền Nam, đã làm cho chính người miền Nam cũng không còn thiện cảm với người Mỹ nữa hay không? Không thể nào Taylor tự giải đáp được. Taylor cảm thấy buồn quá, đi dần về hướng bờ sông.

Taylor tựa vào thân cây, nhìn dòng An Giang lặng lờ. Ngày xưa, nhìn dòng An Giang, Taylor nhớ dòng Mississippi hùng vỹ. Giờ đây, nhìn dòng An Giang, Taylor lại nghĩ đến lời hứa của chàng với cô học trò áo trắng bên dòng An Giang. Buồn quá, Taylor hát nho nhỏ như than thở với dòng An Giang về nỗi niềm riêng của chàng:

“There is a river
called the River of No Return…
Swept on forever
to be lost in the stormy sea…” (6)

Tiếng hát của Taylor văng vẳng trong gió chiều khiến bà bán hàng ngẩn ngơ. Nhìn quanh, không thấy ai có radio – dù có radio cũng không ai dám nghe đài của “bọn đế quốc xâm lược” – bà bán hàng băng nhanh qua đường, đến phía sau thân cây và nhận ra người ngoại quốc này đang hát.

Theo tiếng hát khàn khàn của người đàn ông luốn tuổi, bà bán hàng chợt nhớ lại hình dáng thon thả, đôi mắt xanh biếc cùng lời hứa của đại úy Taylor nơi cầu tàu thuộc trại Vân Đồn, năm xưa.

Khi tiếng hát của Taylor vừa dứt, bà bán hàng bước ra phía trước, hỏi:

- Thưa ông, xin lỗi, ông làm ơn cho tôi hỏi một câu, được không ạ?

Ngạc nhiên, tự hỏi, làm thế nào một bà bán hàng rong lại có thể nói tiếng Anh một cách lễ độ và lưu loát như thế, Taylor “Okay” ngay.

- Đây là lần đầu tiên ông đến Việt Nam hay là ông từng tham chiến tại Việt Nam?

Nhìn dáng người gầy còm, lưng còng vì thiếu dinh dưỡng, khuôn mặt đen đúa, đầy nếp nhăn, răng sún và đôi mắt tí hí ẩn sau đôi kính cận, Taylor đáp:

- Tôi từng phục vụ đơn vị Hải Quân tại đây.
- Ông có biết rằng người cộng sản Việt Nam (csVN) rất căm thù người Mỹ và người miền Nam Việt Nam hay không mà ông còn trở lại Việt Nam?
- Sự trở lại Việt Nam của tôi không liên quan gì đến chính trị. Tôi trở lại Việt Nam chỉ vì muốn thực hiện lời hứa của tôi đối với một cô học trò, bên dòng An Giang.

Nhận ra đây là cựu đại úy Taylor, bà bán hàng cảm thấy tủi thân, chỉ muốn quay đi để khỏi phải nhận chịu một thực thể đau lòng! Nhưng, Taylor chợt nhớ, vừa lấy cuốn sổ tay cũ ra vừa tiếp:

- Tôi tìm một cô gái, nhưng tôi không thể phát âm tên của cô ấy được. Đây là tên của cô ấy, do chính cô ấy viết, bà đọc hộ xem bà có biết phụ nữ nào mang tên này hay không, nha!

Vừa thấy nét chữ của chính mình, Ngọc xúc động mạnh, không thốt nên lời! Ngọc cúi mặt, trả lại cuốn sổ tay, đáp:

- Rất tiếc, tôi cố nhớ xem bạn hữu của tôi ai có tên đó hay không mà nhớ không được! Good bye!

Taylor chưa kịp nói gì, Ngọc đã vội vàng băng qua đường, đến bên gánh xôi, quảy gánh, bước nhanh như chạy trốn.

Trong khi Ngọc muốn liệm chết một dĩ vãng tươi đẹp lẫn đau thương đang bừng sống trong hồn nàng thì Taylor nhìn theo dáng người khốn khổ của Ngọc, lòng buồn buồn, vừa tưởng nhớ cô học trò áo trắng năm xưa vừa “ngân nga” nho nhỏ:

“…Gone gone forever,
down the river of no return.
Wail-a-ree, wail-a-re-e-ee,
she’ll never return to me!” (6)

ĐIỆP MỸ LINH
http://www.diepmylinh.com/

1-2-3.6- River Of No Return của Lionel Newman, Ken Darby.
4.- Mississippi River Blues của McWilliams, Elsie / Rodgers, Jimmie.
5.-Ám từ truyền tin: Québec được hiểu là thiếu tá Quang. “Métro đi phép dài hạn” là Ông Mẫn tử trận rồi.


Liên Bang 'Đóng Cửa'

 


LIÊN BANG 'ĐÓNG CỬA'
Vũ Linh

    Bắt đầu từ ngày 1/10, guồng máy chính quyền liên bang Mỹ 'đóng cửa' vì hết tiền, không phải hết tiền trong kho vì kho cả ngàn tỷ, nhưng vì quốc hội không thông qua ngân sách liên bang mới (các công sở của tiểu bang, quận -counties- và thành phố vẫn mở cửa như thường lệ, không bị ảnh hưởng), trong khi 2 chính đảng cãi nhau, không đi đến thỏa thuận về ngân sách liên bang, cho dù là ngân sách tạm ít tháng. Cả triệu công chức liên bang sẽ phải tạm nghỉ việc không ăn lương. Nhiều công sở sẽ đóng cửa và công việc sẽ bị chậm trễ, chẳng hạn như tiền già sẽ nhận trễ. Tuy nhiên các công chức làm những công việc thiết yếu như cảnh sát, nhà thương, quân đội,... vẫn phải làm việc tuy không nhận lương (đây chỉ là chuyện nguyên tắc, chứ trên thực tế, họ không lãnh lương mỗi ngày mà lãnh lương giữa tháng hay cuối tháng, mà tới khi đó thì có lẽ Nhà Nước liên bang đã mở cửa lại rồi; mà có chậm trễ thì họ cũng sẽ lãnh lương hồi tố thôi). 

    Chính quyền Trump cho biết Nhà Nước đóng cửa sẽ cho ông cơ hội sa thải rất nhiều công chức liên bang. Có thể nhân dịp này đóng cửa vĩnh viễn một số cơ quan Nhà Nước liên bang.

    Về chuyện lương, điều đáng nói là trong khi tất cả công chức liên bang và quân nhân bị ngưng trả lương, quốc hội liên bang đã có luật đặc biệt bắt Nhà Nước vẫn phải tiếp tục trả lương cho tất cả các nghị sĩ và dân biểu như thường. Phe CH mới đưa ra dự luật, theo đó lương của dân cử liên bang cũng phải bị ngưng theo luôn, để bắt các dân cử chịu chung khó khăn với cả nước, nhưng phe DC phản đối vì cho rằng tuy Nhà Nước liên bang đóng cửa, họ vẫn phải 'làm việc', phục vụ cử tri địa phương của họ, do đó vẫn rất cần lương tiếp tục. Vâng, chỉ có nghị sĩ và dân biểu DC cần lương thôi, còn dân cả nước không cần lương. Ai còn ủng hộ đảng DC, xin giơ tay...

    Không ai biết Nhà Nước sẽ đóng cửa bao lâu trước khi hai bên lại thỏa thuận một ngân sách tạm ít lâu, trước khi lại bị khủng hoảng nữa. Chuyện này đã trở thành cơm bữa từ thời Clinton nên bây giờ chẳng mấy ai thắc mắc ngoài các chính khách lo lấy phiếu cho mình bằng cách xỉa tay đổ lỗi cho phe đối lập.

    Lần này hai bên tranh cãi chủ yếu là ngân sách y tế. Trong khi TT Trump và CH chủ trương tiết giảm tối đa, thì phe DC muốn gia tăng cả tỷ để có tiền Medicaid và Medicare cho cả chục triệu di dân lậu luôn. Đảng DC sống chết với di dân lậu vì lý do rất dễ hiểu: đó là cử tri nồng cốt tương lai của họ. Quan trọng hơn nữa, từ ngày có Obamacare tới nay, thiên hạ mua Obamacare với giá khá rẻ vì Obama cho trợ cấp để khỏa lấp giá bảo phí thật, rất cao; bây giờ, thời hạn trợ cấp do chính Obama ấn định sắp hết hạn cuối năm nay, qua đầu năm tới phí bảo hiểm Obamacare sẽ tăng lên đến giá thật, cao gấp 4-5 lần bảo phí phải trả hiện nay, phe DC đòi gia hạn trợ cấp tiếp tục, phe CH nhất quyết không chịu vì đó là lừa gạt dân trong khi Nhà Nước phải tốn quá nhiều tiền.

    Tin lạ: báo loa phường New York Times làm thăm dò dư luận và khám phá ra 2/3 hay 65% dân Mỹ cho rằng đảng DC không thể ép buộc đóng cửa Nhà Nước khi đòi hỏi của họ không được đáp ứng.

https://www.foxnews.com/politics/majority-american-voters-warn-dems-shouldnt-back-government-shutdown-key-issue-poll

    Đám vẹt dĩ nhiên đổ tội lên đầu Trump, la hoảng "Thật kinh khủng!!!", mà cố tình 'quên' việc đóng cửa Nhà Nước liên bang đã xảy ra không biết bao nhiêu lần từ thời Clinton tới giờ, mà chẳng chết ma nào. Cả hai bên xỉa tay đổ lỗi cho nhau, trong khi thực tế là cả hai bên không đạt được thỏa thuận, nghĩa là cả hai bên đều có lỗi hết vì không nhượng bộ nhau bất cứ điểm nào để có ngân sách chung cho cả liên bang. Một mình TT Trump không đủ quyền, và một mình đảng CH hay DC cũng chẳng đủ quyền để đóng cửa gì hết. Câu chuyện cả một chính quyền liên bang của một quốc gia với hơn 330 triệu lá phiếu quá phức tạp, ngoài trình độ hiểu biết và bàn bạc của đám vẹt chỉ giỏi chửi đổng lung tung trong hiểu biết rất giới hạn.

    Về chuyện tranh cãi cắt giảm chi phí y tế, một con vẹt u mê -chị Lâu Ra Kinh Khủng- thắc mắc tại sao dân tị nạn Việt rất cần bảo hiểm y tế như Medicare và Medicaid, lại đi ủng hộ cái đảng lo cắt Medicare và Medicaid. Xin được trả lời chị: tại vì Trump muốn cắt hết Medicare và Medicaid cho di dân lậu, cộng đồng Việt tị nạn không phải di dân lậu, không có gì phải sợ bị cắt bất cứ xu nào. Giản dị vậy mà không hiểu, cũng đòi bàn luận chuyện thời sự chính trị.

Vũ Linh


200 Tỷ Cho Di Dân Lậu: Dân Chủ Ưu Tiên Ai, Mỹ Hay Ngoại Nhân?



200 TỶ CHO DI DÂN LẬU: DÂN CHỦ ƯU TIÊN AI, MỸ HAY NGOẠI NHÂN?
Chan Nhu Channel

Trân trọng 
NHHN 

Kính mời quý vị theo dõi