Thứ Bảy, 28 tháng 8, 2021

Trường Thi Chôn Nhau Cắt Rốn Đoạn 14

 



Trường Thi Chôn Nhau Cắt Rốn Đoạn 13

 



Hình Ảnh Afghanistan Cách Đây Hơn Nửa Thế Kỷ Tươi Đẹp Và Hiện Đại

 

Hình ảnh những người phụ nữ Afghanistan năm 1940.

NHỮNG HÌNH ẢNH KHÓ TIN CÁCH ĐÂY HƠN NỬA THẾ KỶ VỀ MỘT AFGHANISTAN TƯƠI ĐẸP VÀ HIỆN ĐẠI 
Sưu tầm

Trước khi chìm trong bóng tối của chiến tranh và bạo lực, Afghanistan từng là một quốc gia phát triển mạnh mẽ về văn hóa, giáo dục, thời trang và cơ sở hạ tầng. Đó từng là nơi mà phụ nữ được đi học, được làm việc và được ăn mặc theo sở thích của mình.


Cuộc sống ở Kabul vào những năm 1950 - 1970.



Năm 2016, trong số 23 triệu dân số ở Afghanistan, chỉ có 5% phụ nữ có thể đọc và viết. Nhưng Afghanistan không phải lúc nào cũng như vậy. Năm 1940, Afghanistan từng là mảnh đất có nền văn hóa rực rỡ và cơ hội dành cho tất cả mọi người.


Nơi đây có những công trình kiến trúc hiện đại. Khoa học và giáo dục phát triển mạnh, phụ nữ mặc váy, lái ô tô, được nghe nhạc và học đại học.


Những hình ảnh về Afghanistan cách đây hàng chục năm cho thấy Afghanistan từng phát triển như thế nào trước khi chìm vào bóng tối, bạo lực và chiến tranh như hiện nay.


Cách đây hơn nửa thế kỷ, phụ nữ ở Afghanistan có thể theo đuổi nghề y. Phụ nữ và đàn ông có thể tới rạp chiếu phim cùng nhau hay gặp nhau ở trường đại học.


Chính phủ Afghanistan vào thời điểm đó cũng thúc đẩy nhiều dự án lớn nhằm cải thiện các cơ sở hạ tầng quốc gia. Chẳng hạn, ngành cầu đường và xây dựng các nhà máy điện lớn đã phát triển mạnh. Mọi người đều tin rằng giáo dục sẽ đưa một đứa trẻ tới một tương lai tươi sáng.


Một cửa hàng băng đĩa ở Kabul năm 1960.



Một dàn hợp xướng ở Afghanistan.



Sân bay Kandahar hiện đại được xây dựng vào năm 1960.



Các tiếp viên hàng không của Afghanistan.



Kabul xinh đẹp và yên bình.


Thành phố Kabul hiện đại của năm 1960.


Đường phố Kabul cách đây hơn nửa thế kỷ.

Các du khách nước ngoài tại một điểm cắm trại ở Vườn Quốc gia Band-e-Amir.


Một con đường ở Afghanistan.


Các bà mẹ và những đứa trẻ ở một sân chơi dành cho trẻ em tại Afghanistan


Sinh viên Đại học Kabul năm 1960.


Các cô gái đến trường học.


Những người phụ nữ Afghanistan xuống đường biểu tình năm 1980.


Một lớp học dành cho phụ nữ năm 1980.


Một lớp học ở Kabul năm 1960.


Một người phụ nữ Afghanistan đang làm việc.



Khoa Sinh học, Đại học Kabul ở Afghanistan.



Nhà thiết kế Safia Tarzi tại một studio của ông ở Kabul năm 1969. Thời trang của Afghanistan từng có ảnh hưởng với thế giới vào cuối những năm 1960.



Những người phụ nữ Afghanistan cách đây hơn nửa thế kỷ.



Năm 1969, tạp chí thời trang Vogue đã xuất bản một bài báo mang tên "Cuộc phiêu lưu ở Afghanistan" nói về những buổi trình diễn thời trang ở Kabul và sự thanh lịch của thành phố này.



Còn đây là hình ảnh quen thuộc về phụ nữ Afghanistan mà chúng ta thấy ngày nay.

Sưu tầm


Người Lính Mỹ

 

Christian Golcyznski, 8 tuổi, trong đám tang của Cha – Marine Staff Sgt. Marcus Golcyznski – tử trận tại Iraq, 2007. (1) 

Tạp Ghi - NGƯỜI LÍNH MỸ
Điệp Mỹ Linh

Thời gian gần đây, những biến động tại Afghanistan khi Hoa Kỳ rút quân khiến nhiều ngòi bút đưa ra sự so sánh giữa miền Nam Việt Nam, tháng Tư năm 1975 và Afghanistan, tháng Tám năm 2021.

Vâng, tôi thấy vài điểm tương đồng như Cha Mẹ đưa em bé qua hàng rào kẽm gai để em bé được vào vòng tay của người lính Mỹ – chỉ với hy vọng cho con được đến chốn an toàn. Taliban đến từng nhà, tại Afghanistan, treo cổ những người làm việc cho Mỹ. Vài người liều, “đu” theo máy bay, bị rớt, chết; trong số này có một thanh niên thuộc Afghanistan’s youth natonal football team, v.v…

Ngoài vài điểm tương đồng như trên, tôi còn nhận thấy ba điểm rất đáng chú ý.

1.- Năm 1973, Mỹ rút quân khỏi Việt Nam; Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) giữ vững miền Nam cho đến năm 1975.

2.- Năm 2021, Mỹ rút chưa hết quân khỏi Afghanistan mà quân Taliban đã chiếm thủ đô Kabul của Afghanistan rồi!

3.- Nếu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu có câu: “Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm!” thì, tại Afghanistan cũng có câu: “No one trusts anything that comes from the Taliban's mouth.”

Link: https://www.cnn.com/2021/08/20/asia/afghanistan-taliban-rule-friday-intl/index.html

Riêng tôi, kể từ ngày Mỹ bắt đầu rút quân khỏi Afghanistan, tôi cứ hồi hộp, lo âu và cầu nguyện để Taliban đừng pháo kích bừa bãi vào đoàn người chạy loạn hoặc pháo kích vào phi trường Kabul – như cộng sản Việt Nam (csVN) đã pháo kích vào phi trường và pháo kích chính xác vào đoàn người cùng dòng máu Lạc Hồng – đang chạy về phía VNCH để được che chở, năm 1975.

Trong khi tôi đang thầm vui vì tưởng rằng Taliban không tàn ác như csVN thì, bảng tin trên CNN, ngày 08-26-2021, làm tôi tức giận.

Trưa nay, 08-27-2021, tôi lại thấy tin bổ túc, lúc 12:36 PM ET:

“… a bombing at Kabul's airport killed at least 170 people including 13 US service members {…} More than 200 people were injured in Thursday's attack, an official with Afghanistan's Ministry of Health told CNN on Friday…” Link: https://www.cnn.com/2021/08/27/asia/afghanistan-kabul-airport-attack-update-intl-hnk/index.html

Thì ra, cái ác lúc nào cũng chập chùng trong thế giới này! Tôi ngậm ngùi nghĩ đến những vụn vỡ trong trái tim của người Mẹ, người vợ, người con, người chị/em gái và người tình của người lính Mỹ – tưởng sắp thoát được vùng lửa đạn – phải gục ngã vào giờ phút cuối!

Là một ngòi bút không chuyên nghiệp, không thích và không muốn tìm hiểu về chính trị, tôi chỉ xin được nhìn hai sự kiện Việt Nam 1975 và Afghanistan 2021 từ “lăng kính” của một phụ nữ. Tôi chỉ xin được viết từ tâm thức của một người Mẹ, người vợ, người con, người chị, người yêu hoặc là người em gái của một người lính tác chiến.

Từ vị thế của người vợ, những lần được tháp tùng các cuộc hành quân hỗn hợp của Hải Quân VNCH – để viết tường thuật – tôi đã thấy và cảm nhận được sự hy sinh cũng như nỗi đau trong lòng người lính Mỹ khi phải xa quê hương để dấn thân vào cuộc chiến mà chính họ không hiểu được lý do!

Lần đầu tiên tôi thấy người Mỹ – Hải Quân đại úy Graham, cố vấn trưởng của Duyên Khu II – đổ máu trên chiến trường Việt Nam là năm 1964, tại Vĩnh Hy, Cam Ranh. Thời điểm đó, Hải Quân trung úy Hồ Quang Minh (Bố của các con tôi) là Chỉ Huy Trưởng Duyên Đoàn 26, hậu cứ tại Bình Ba, vịnh Cam Ranh.

Lần thứ hai, khi Minh chỉ huy Giang Đoàn 30 Xung Phong, tham dự hành quân dài hạn Tam Giác Sắt. Cố vấn của GĐ30XP – Hải Quân trung úy Martin – bị thương nặng, trên chiếc Command.

Lần thứ ba, Hải Quân đại úy Blust – cố vấn của GĐ26XP, hậu cứ tại Long Xuyên – bị Việt cộng “bắn sẻ” trên chiếc Command, trong lúc Minh chỉ huy đoàn chiến đỉnh giang hành trên kinh Trèm Trẹm, để tiếp cứu đồn thứ Chín.

Lần thứ tư, tại xã Hộ Phòng, quận Gia Rai, cũng thời điểm Minh chỉ huy GĐ26XP. Trên con kinh đào rất hẹp, Hải Quân đại úy Taylor – cố vấn của GĐ26XP – bị thương vì Việt cộng bắn B-40 vào chiếc Command.

Lần thứ năm, tại Kinh Ngang, Minh là Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn V Tuần Thám. Khi đoàn PBR – Patrol Boat Riverine, khinh tốc đỉnh – đến khúc cua ngặt, bị B-40, B41 của Việt cộng bắn xối xả. Một B-41 xuyên qua khinh tốc đỉnh chỉ huy. Minh và cố vấn Gronados đều bị thương.

Đối với tôi, cảnh lửa đạn trên sông hoặc dọc bờ sông, vào ban đêm, mang nặng tính chất hào hùng và bi thảm. Nhưng, hình ảnh và tiếng hát nghẹn ngào của Hải Quân đại úy Ashmore – thay thế cố vấn Blust, GĐ26XP – nơi mũi chiếc Command vào một đêm trăng, trên sông Cái Lớn, lại cho tôi hiểu thế nào là thương nhớ, thế nào là cô đơn, thế nào là bơ vơ, lạc lõng của một người lính chiến phải xa quê hương cả nửa vòng trái đất!

Gần nửa thế kỷ qua, không thể nào tôi nhớ được tựa đề của ca khúc mà Ashmore thường hát trên những dòng sông nhuộm máu. Nhưng giọng hát đầy u uẩn và bóng dáng đơn độc của Ashmore nơi mũi chiếc Command thì mãi hoài đọng lại trong hồn tôi!

Mỗi khi nhớ lại giọng hát và hình ảnh của Ashmore, tôi tự hỏi: Từ khi tôi được sinh ra cho đến bây giờ, biết bao nhiêu ngàn lính Mỹ đã “rơi” vào tình cảnh bơ vơ, lạc lõng sau mỗi trận chiến – nếu họ may mắn còn sống? Biết bao nhiêu ngàn lính Mỹ bị tàn tật? Biết bao nhiêu ngàn lính Mỹ đã bị “mất xác”?

Nhắc đến người lính Mỹ bị “mất xác”, tôi xin trích một phân đoạn từ tùy bút Tạ Ơn Mảnh Đất Này, của ĐML, có liên quan đến sự “trở về” của First Lieutenant Paul Magers!

“… Paul Magers chết khi chàng chỉ 25 tuổi và mới đến Việt-Nam chỉ có hai tuần! Paul biết quê tôi chỉ có hai tuần nhưng thân xác của Paul thì “ở lại” đó đến gần 40 năm! Trong ảnh, nụ cười của Paul rất rạng rỡ, vô tư. Nụ cười đó mà biết hận thù ai! Ánh mắt đó mà muốn bắn giết ai! Bởi vậy mới có một chiến binh Hoa Kỳ – James Lenihan – trong trận Thế Giới Đại Chiến II, đã bắn kẻ thù xong thì gục đầu bên xác kẻ thù mà khóc:

I shot a man yesterday
And much to my surprise,
The strangest thing happened to me
I began to cry.

He was so young, so very young
And Fear was in his eyes.
He had left his home in Germany
And came to Holland to die

I knelt beside him
And held his hand
I begged his forgiveness
Did he understand?

It was the War
And he was the enemy
If I hadn’t shot him
He would have shot me.

I saw he was dying
And I called him “Brother”
But he gasped out one word
And that word was “Mother.”… (1) (Hết trích)

Kể từ Thế Giới Đại Chiến thứ II, theo tài liệu trên internet, số thương vong – không kể thương binh – của lính Mỹ trên thế giới là:

· Thế Chiến Thứ II: 461,800.
· Việt Nam: 58,220.
· Iraq: 4, 431.
· Afghanistan: 2,376.
· Triều Tiên: Chưa được ghi nhận.
· Bị bệnh Posttraumatic stress disorder (PTSD): Chưa được kiểm chứng.
· Tự tử sau mỗi cuộc chiến: Chưa được phổ biến.

Một đất nước – the United States of America (USA) – đã đóng góp cho thế giới Tự Do bao nhiêu nhân sự và xương máu, chưa kể tài chánh, quân trạng, quân dụng, khí giới, v.v… mà mỗi lần USA rút quân khỏi một nước nào thì USA cũng đều nhận bị “lên án”, như “đâm sau lưng đồng minh”, “tháo chạy”, “bội ước”, “phản bội”, v.v…

Thế csVN bội ước, xâm phạm bao nhiêu Hiệp Ước ngưng bắn trong cuộc chiến 21 năm trên Quê Hương tôi, để cuối cùng cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, đã ai thẳng thắn, mạnh dạng lên án csVN chưa?

Chưa!

Điều cay đắng và mỉa mai nhất là: Mỗi lần Hoa Kỳ “phản bội”, “tháo chạy”, “bội ước” một nước nào thì chính người lính Mỹ cũng phải canh gác, giữ trật tự, an ninh – nhiều khi phải chết vì những nhiệm vụ sau cùng này, như sáng 26 tháng 08 năm 2021, tại phi trường Kabul – chỉ với mục đích đem được càng nhiều dân địa phương càng tốt về Mỹ để… nuôi, làm người tỵ nạn!

Biết bao nhiêu con cháu của các sắc dân tỵ nạn tại Mỹ đã thành công vượt bực trên nhiều lãnh vực, trong mọi địa hạt; thế mà đã có tổ chức nào của người tỵ nạn thành lập Hội Giúp Đỡ hoặc biết ơn Thương Binh và tử sĩ Hoa Kỳ chưa?

Chưa!

Người lính Mỹ, trong nhân dáng hiên ngang, với những bước chân chắc nịch, đôi mắt nhìn thẳng và kỹ thuật tác chiến tuyệt vời. Nhưng người lính Mỹ cũng có trái tim biết rung động, biết nhớ thương, biết đau khổ như bạn và tôi. Xin đừng “thần thánh hóa” hoặc đòi hỏi những điều mà người lính Mỹ không thể thực hiện được; vì người lính Mỹ còn phải chu toàn bổn phận đối với người hôn phối, gia đình và người thân.

Xin hãy nghĩ đến những trái tim tan vỡ trong mỗi gia đình, khi một người lính Mỹ gục ngã!

Tôi quan niệm, người Mỹ chỉ như người láng giềng tốt bụng. Khi bạn bị té ngoài sân, người láng giềng tốt bụng đó chỉ có thể đỡ bạn dậy, gọi 911 rồi an ủi, phủi bùn đất cho bạn. Thế là bạn may mắn rồi! Đừng buồn trách khi người láng giềng đó không ở lại đàn hát cho bạn nghe trong thời gian bạn dưỡng thương!

Nhưng, khi gia đình bạn nuôi một con thú bất trị, chuyên phá phách trong nhà, sân vườn của bạn, của làng xóm – có khi cắn người thân của người láng giềng tốt bụng – thì người láng giềng tốt bụng đó sẽ không ngại ngùng gì mà không kiện bạn hoặc giết con thú bất trị của bạn.

Sau đó, người láng giềng đó có thể chỉ dẫn cho bạn cách thức làm vườn, trồng những loại hoa đẹp. Thế thôi! Bạn không thể buộc người láng giềng đó phải tự tay chăm sóc vườn hoa cho bạn hoặc “đền” cho bạn con thú khác!

Để kết thúc bài viết, tôi xin mượn lời của một cựu quân nhân Mỹ từng tham chiến tại Iraq.

Veterans Club Founder and CEO Jeremy Harrell, an Army veteran who served in Iraq, said: “I think that’s a really good idea. I’m glad President Biden is keeping President Trump’s idea to bring troops home and to get folks out of Afghanistan.” Link: https://www.wave3.com/2021/04/15/its-time-come-home-kentucky-afghan-iraq-war-veterans-react-us-troop-withdrawal/

ĐIỆP MỸ LINH
https://www.diepmylinh.com/

1.-Hình trong bài của Wonbo Woo, Kate Snow and Tracy Connor – ngày 20-Dec. 2013 – US News.
2.-Washington (CNN) -- What does it feel like to kill a man? James Lenihan of Brooklyn knew. He fought in Europe in World War II and he killed a German soldier during a battle in Holland.

Một Lần Đến Thăm Đền Các Vua Hùng Và Vùng Cực Bắc Của Đất Nước - Phần III (3, 4, 5)

 

Cổng chính đi vào Đền Các Vua Hùng 

MỘT LẦN ĐẾN THĂM ĐỀN CÁC VUA HÙNG VÀ VÙNG CỰC BẮC CŨA ĐẤT NƯỚC
Thầy Đương Anh Sơn

III.- ĐÈO MÃ PÍ LÈNG và CÁC DÒNG SÔNG

Từ giã Đồng Văn, xe đưa đoàn theo quốc lộ 4 C đi qua một con đèo trước đây khá hiểm trở có tên là Mã Pí Lèng thuộc huyện Mã Pí Lèng và Mèo Vạc, Hà Giang. Tuy đường đi có nhiều khúc cổ tay, ngoằn nghèo nhưng với các phương tiện cơ giới bây giờ, đường cũng dễ đi đủ hai xe tránh nhau. Được xây dựng trên các triền núi đá vôi lởm chởm nhưng khá vững chải của công viên địa chất Đồng Văn nên dù trời mưa to cũng không sợ lỡ đất đá như đèo Bảo Lộc của Lâm Đồng.

Vùng Mã Pí Lèng viết đúng theo cách phát âm của người bản địa là Mã Pí Lèng. Trước kia thời 1959, đường được cả ngàn lượt thanh niên gian nan để mở đường do chưa có máy móc phải dùng đồ thô sơ để đục đẽo đá cứng ở độ cao 1200 m. Hai mươi cây số đi qua đỉnh núi của đèo làm xong. Phải mất 6 năm nữa con đường 160 km qua Cao Bằng mới hoàn tất. Có lẽ giai đoạn này, miền Bắc thiếu thốn đủ thứ, nếu có những xe làm đường chuyên nghiệp chưa phải loại đời mới bây giờ như trong Nam thời 1960 không phải dùng sức người quá khổ như thế! Xe dừng trên một khúc rộng trên đèo để mọi người xuống xe chiêm ngưỡng con sông Nho Quế xanh mướt dưới vực sâu nhìn từ đèo xuống. (h. 3). Đó là con sông xuất phát từ Vân Nam, Trung Hoa dài 192 km; ở nước Việt nó chỉ có 45 km đi qua Đồng Văn, Mèo Vạc đổ vào sông Gâm hay nói dúng hơn là sông Gầm ở Cao Bằng.

Dòng Nho Quế xanh mướt nhìn từ đèo Mã Pí Lèng

Con đường về huyện Bắc Mê đi qua rất nhiều trạm thủy điện như Nho Quế, Chiêm Sơn, Na Hang, Bắc Mê, Bảo Lâm, Nậm Mạ, Yên Sơn... Đường đi quanh co theo các dòng sông như Nho Quế, sông Năng, sông Nậm Mạ, sông Neo... qua các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn đưa đoàn chúng tôi đến huyện Bắc Mê lúc sẩm tối. Bữa tối ăn bữa cơm nơi đây với các món ăn cũng tương tự như những chỗ ăn lần trước!

Bữa ăn một quán" lớn" vùng cực bắc đều giống nhau: rau luộc, canh rau, cá sông, dĩa muối ớt thêm dĩa gà luộc và đậu hủ kho nhưng ngon và sạch.....

Có lẽ cuộc sống mộc mạc, đơn sơ của các dân tộc bản địa nơi đây đã tạo nên các sinh hoạt cũng đơn giản như chính cuộc sống của họ. Lối suy nghĩ, cách nói năng khi tiếp xúc không rắc rối nhưng chơn chất. Những ngày nắng tốt leo núi dăm hạt bắp, ngày mùa leo núi thu hoạch. Ngày này qua tháng nọ cứ đơn điệu, lập đi lập lại một cung bậc như bữa ăn rau muối thường ngày của họ. Khi lễ lạc, ngày mùa hay có khách sẽ thêm vài món cá sông hay gà luộc... v.v... Tôi nhớ những hình ảnh trông thấy khi ở Đồng Văn dậy sớm đi tìm quán cà phê uống cho ấm bụng giấc sáng. Tôi và em trai của một anh chị trong đoàn rất ngạc nhiên lúc ghé khu Phố Cổ tìm chỗ nhâm nhi cà phê. Có khoảng năm sáu quán cà phê nơi quảng trường cũ nhưng có lẽ bán khuya nên họ dẹp sơ sơ về ngủ. Quán nào cũng không có cửa ngõ, có thể tự do đi lại thông nhau với quầy kệ để nhiều vật dụng cho việc pha chế cà phê giăng khắp bàn nhưng không có chủ và chắc là không sợ kẻ gian như dưới miền xuôi! Chỉ e rằng cơn lốc thành thị hóa và nhiều thứ "văn hóa" đi kèm sẽ làm suy thoái bản tính chất phác, trung thực vốn có của họ.

IV.- ĐI THUYỀN TRÊN SÔNG GÂM (GẦM)

Ngủ lại Bắc Mê, ngày thứ tư của chuyến ra bắc, sau khi ăn sáng xong, xe đưa chúng tôi tới bến thuyền cách trung tâm thị trấn chính của huyện không xa để xuống thuyền sắt xuôi dòng sông Gâm.

Sông Gâm trước kia vẫn gọi là sông Gầm là một nhánh của sông Lô phát xuất từ Vân Nam, Trung Hoa có tên là Bạch Nam Hà dài 297 km, chảy vào Việt Nam có tên sông Gâm (Gầm) dài 217 km đi qua các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang rồi đổ vào sông Lô ở huyện Yên Sơn. Các con đường đèo cũng uốn lượn theo các con sông đổ vào sông Gâm dưới vực đèo qua các vùng đá phiến thạch anh Bắc Kạn...

Ngồi thuyền xuôi dòng sông Gầm đến Na Hang, Tuyên Quang

Đoàn chúng tôi xuống bến thuyền ở Bắc Mê lên chiếc thuyền sắt khá vững chải chở thoải mái khoảng hai mươi người đợi sẵn với hai anh em cầm lái trẻ tuổi. Thuyền bắt đầu rời bến đi đến chặng đầu tiên là Na Hang là một thị trấn nhỏ ven sông. Vì sợ không kịp thời gian nên thuyền chỉ lướt qua không ghé lại. Do mấy bữa nay có mưa nguồn nên nước của con sông có màu vàng đục. Nhìn núi non hùng vĩ ven sông với sương giăng khói tỏa, chúng tôi như cảm thấy hồn thiêng sông núi đang có mặt nơi đây! Đà Lạt nơi tôi sinh sống thuở nào núi non rất đẹp nhưng dáng vẻ Tây phương. Còn đây, cái đẹp của cảnh quan như hòa quyện với nhau vừa hùng vĩ, vừa kỳ bí, vừa sâu lắng lại có sức hấp dẫn lạ lùng. Đó là cái đẹp có hồn của sông núi! Từ thuyền nhìn lên những ngọn núi cao, những vách đá ven sông dựng đứng, màu sắc khi xanh thẳm, khi xanh lơ thay nhau tạo nên những cảnh sắc tuyệt vời. Thuyền đi qua những khe hẹp giữa hai vách núi trắng đen hòa cùng màu xanh của cây cối trông mãn nhãn!

Núi non ven dòng sông đi đền lòng hồ Na Hang

Thỉnh thoảng, chúng tôi lại gặp những thác nước lớn nhỏ từ triền đá cao chảy xuống trông rất ngoạn mục.

Những thác nước từ triền núi cao đổ xuống điểm thêm cho cái đẹp vốn sẵn có của dòng sông.

Thấp thoáng xa xa trên triền dốc núi có rải rác bản làng của người dân tộc mà có lẽ cuộc sống văn minh thành thị rất xa lạ với họ. Qua Na Hang, dòng sông bây giờ trở nên xanh như ngọc biếc, thuyền chúng tôi đi vào một vùng nước xanh thẳm vời nhiều cột đá lớn nhỏ nhô lên mà người dân tộc gọi là Vài Phạ nghĩa là cọc đá để cột trâu của trời! 

Một cột đá như một tòa nhà cao gần 100m ở giữa con sông.

Cả đoàn đều trầm trồ trước cảnh quan của khu vực này. Ai nấy đều ra phía trước thuyền ghi lại những góc đẹp của những cột đá hòa quyện cùng sông nước xanh biếc và núi non giăng mắc mây khói quanh quanh! Chắc chắn đất nước nào cũng có những cảnh đẹp riêng của họ. Và không phải cảnh đẹp nào cũng giống nhau. Núi non, cảnh trí nơi đây và chúng tôi có một sự thân thiết của tình tự quê hương. Cái đẹp của cảnh sắc trước mắt thực sự chất chứa hồn thiêng sông núi như một nhắc nhở cho con cháu quyết tâm giữ gìn giang sơn gấm vóc của cha ông để lại!

Sông nước và núi non hòa quyện

Nghe nói cá sông Gâm rất ngon, người thầy từng dạy Triết lớp 12 của tôi đi cùng đoàn đã dặn anh hướng dẫn viên công ty Thế Hệ Trẻ báo cho nhà thuyền mua cá lăng là món chính buổi ăn trưa trên thuyền. Sông Gâm, theo như anh hướng dẫn du lịch cho biết có năm loại cá nổi tiếng là cá anh vũ, dầm xanh, cá lăng, cá bống, cá chiên cùng nhiều loại tôm cá khác. Cá anh vũ xưa để tiến cung dâng cho vua và hầu như mất bóng. Bữa cơm do đứa em tài công khoảng trên hai mươi tuổi chuẩn bị từ khi thuyền rời bến trông tươm tất và quả thật nấu khá ngon miệng nhất là cá lăng hấp ướp hương vị rau thì là pha nghệ ăn với bánh tráng.

Bữa ăn rất vui và ngon trên thuyền dọc sông Gâm.

V.- THĂM THÁC BẢN GIỐC

Rời hồ Ba Bể, đoàn chúng tôi lên đường đi Cao Bằng để ghé thăm thác Bản Giốc, một thác nước được nhiều người Việt rất quan tâm vì hai lý do chính yếu. Trước hết, đó là một trong những thác nước đẹp nhất nước Việt Nam. Và thứ hai đó là một thác nước phải chia ranh và đóng cọc mốc biên giới ngay giữa thác xác định phần phía trái của thác chính cùng nguyên thác phụ gần đó là của Việt Nam; nửa bên thác chính phía đông là của nước Trung Hoa mà bây giờ đều gọi quen là Trung Quốc! Trước năm 1999, khi chưa có sự phân định biên giới vùng thác Bản Giốc, hầu như người dân Việt theo sách vở cũ và những tư liệu lịch sử từ thời Pháp thuộc vẫn nghĩ rằng thác Bản Giốc đương nhiên là của nước ta!

Từ những năm 2000 trở đi, rất nhiều người vẫn nghĩ là có một sự sắp xếp nào đó kèm theo những mưu toan xảo trá của Trung Quốc trong việc đảo ngược những giấy tờ gọi là hòa ước chính quyền Pháp xâm chiếm nước ta đã ký với nhà Thanh Trung Hoa từ 1887 và 1895 phân chia thác Bản Giốc như đã nêu trên. Năm 1999, hai bên tái xác nhận và định rõ lại đường biên giới đi qua giữa thác chính... Hầu như không thấy Trung Quốc công khai trưng bản gốc của Hòa ước 1887 và 1895. Chỉ nghe họ nói như thế và trong những gì hai bên đàm phán đưa ra về Bản Giốc... Một kẻ thù cả hai ngàn năm nay chưa bao giờ đứng về cái thiện, cái đúng sẽ dùng đủ mưu kế khi đàm phán biên giới! Hình ảnh của Trung Quốc xưa nay luôn đồng nghĩa là mưu mô, gian xảo, trí trá, tiểu xảo, hung tợn...! Khó mà tin vào được những gì họ nói vì nói một đằng làm một nẻo như chuyện biển Đông trước mắt!

Thành ra, trong chuyến đi này, tôi rất thỏa lòng được ghé đến một địa danh lịch sử còn nhiều nghi vấn... Chỉ sợ lòng tham không đáy về đất đai, biển đảo của bọn xâm lược phương Bắc này chẳng bao giờ dừng lại. Bọn chúng về lâu dài đang mưu tính nuốt dần không phải chỉ là thác Bản Giốc mà thôi...

Chúng tôi ghé lại Bản Giốc trong một buổi chiều mưa tầm tả. Thác nước từ độ cao chảy ào ào xuống khiến bọt tung tóe bay khắp khu vực trước thác hòa cùng cơn mưa nặng hạt. Tôi nhìn những người trong đoàn thấy họ dù mưa gió vẫn thích đứng chụp cảnh thác nước lịch sử! Tâm trạng của mỗi người không ai giống ai, nhưng chắc chắn cùng có mẫu số chung là tình yêu quê hương đất nước tràn trề mà thác Bản Giốc là một hình ảnh rất tiêu biểu để qua đó nghĩ về số phận và tương lai quê cha đất tổ nhiều hơn!

 Mưa và bụi nước từ thác tung tóe trong khi đang đứng trước thác Bản Giốc.

Con sông Qui Sơn   người địa phương đây đọc là Quây Sơn, phát xuất bên Trung Hoa chảy vào Việt Nam ở xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh, Cao Bằng. Sông chảy đến xã Đàm Thủy chia nhiều nhánh chảy thành thác đổ xuống một vùng rộng như một hồ nước nhỏ. Mức nước dưới chân thác so với con sông phía trên là khoảng 35 m. Sông chảy thành thác rồi thành dòng quay trở lại (qui) Trung Hoa.

Quả thật nhìn thác nước trong cơn mưa chiều, chúng ta thấy sự hùng vĩ và cái đẹp của nó. Cảm nhận về cái đẹp mỗi người mỗi vẻ nhưng giống nhau vì thác nước vùng biên giới này từng gắn liền với bao triều đại gắn liền với việc thành hình nước Việt ở phương Nam. Sự chia đôi biên giới của thác nước cũng có nghĩa trong tâm thức là chia đôi cái đẹp hay là cái đẹp nửa vời! Cái đẹp của thác chưa thực sự hoàn hảo và của riêng đất nước Việt!

Thác Bản Giốc vùng biên giới trong cơn mưa chiều......

Dù mưa chưa ngớt, chúng tôi vẫn muốn đứng nhìn thác nước ví như nàng con gái tuyệt đẹp đang một thân chịu sự giằng co của hai chàng trai mạnh yếu cách biệt... Nhưng rồi anh hướng dẫn viên đã thúc giục trở lại xe để còn di chuyển thêm 180km theo QL4a về Lạng Sơn ghé thăm nhiều di tích lịch sử khác nữa...

Lên xe rời thác Bản Giốc khi cơn mưa chiều đã bớt. Xe đưa chúng tôi về lại một khách sạn ở Cao Bằng nghỉ đêm để sáng hôm sau đi thị trấn Đồng Đăng cách khoảng 125 km. Đồng Đăng vốn được biết đến qua câu ca dao quen thuộc:

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.
Ai lên xứ Lạng cùng anh,
Bỏ công bác mẹ sinh thành ra em...

Ngày nay, ngoài những địa điểm du lịch nổi tiếng từ trước, thị trấn Đồng Đăng và thành phố Lạng Sơn từng được đề cập nhiều và đi vào lịch sử với những trận đánh ác liệt cách đây 40 năm ngăn chặn bọn xâm lược phương Bắc tràn vào vùng cực bắc và đông bắc nước ta. Tháng 2/1979, mấy chục quân đoàn của bọn xâm lược Trung Quốc tiến công nước ta về mạn bắc trong đó có Đồng Đăng và Lạng Sơn phải gánh chịu những tổn thất rất lớn. Nơi đây từng chứng kiến những thiệt hại về quân số, xe tăng của bọn chúng cũng như những hy sinh mất mát của người dân vùng này... Bốn mươi năm trôi qua (1979-2019), những vết tích của cuộc chiến đấu khốc liệt thuở ấy vẫn còn ở một số địa điểm lịch sử nhưng bộ mặt phố xá đã thay da đổi thịt của một thời hòa bình...

Dương Anh Sơn