Truyện ngắn - BỊNH GIÀ
Lê Đức Luận
Thường ngày, bà Tư thức dậy khoảng sáu giờ, xuống bếp
nấu nước pha cà phê, pha trà. Một lát sau ông Tư xuống. Trên chiếc bàn nhỏ gần
bếp đã có sẵn hai ly cà phê, một bình trà nhỏ tỏa hương thơm phức. Hai ông bà
ngồi đối diện, thong thả nhâm nhi cà phê, nhấm nháp ngụm trà, rồi “cà kê” đủ thứ
chuyện nghe được trên đài truyền thanh, truyền hình, trên youtube hay từ bạn bè… đợi bên ngoài tan sương, sáng tỏ,
ông bà mới thả bộ đến một công viên gần nhà tập thể dục.
Sinh hoạt buổi sáng như thế đã thành thói quen từ
ngày về hưu, chỉ những hôm “trái gió, trở trời”, ông bà mới ngồi nhà tâm tình:
chuyện đạo, chuyện đời và lo âu cho tương lai bất định!
Bà Tư thường nói: - Không biết một mai, ông đi trước
hay tui đi trước? Người đi trước khóc người ở lại – không biết rồi sẽ ra sao? Người
đi sau khóc người đi trước – không biết
rồi sẽ về đâu? Phải chi ông Trời cho mình đi chung “chuyến tàu” thì khỏi bận
tâm, ông nhỉ?
Ông Tư bảo: - Nhân sinh vô thường! Không ai biết được
tương lai đời mình. Con người có hai lần khóc không do dự tính hay xúc cảm thường
tình - đó là tiếng khóc chào đời và giọt nước mắt trước lúc lâm chung. Đứa trẻ
khóc hồn nhiên lúc chào đời, nhưng không lời giải thích: tại sao? Người đi vào cõi chết, nước mắt ứa ra, cũng
không nói rõ: tại sao? Phải chăng đó là cái kỳ bí của Tạo hóa - không muốn cho
thế gian biết hết cái nhiệm mầu mà để nhân sinh giác ngộ và tự tìm ra hạnh phúc
trong cõi ta bà. Người ta đoán rằng: “Vừa ra khỏi lòng mẹ, đứa bé khóc, là do
linh tính báo cho biết: ‘nhân sinh là bể khổ’. Rồi đến một ngày, con người rời ‘bể
khổ nhân sinh’, nước mắt ứa ra… cũng do
linh tính cho biết: sẽ vào cõi hư vô, bất định…” Vậy biết nơi đâu là vĩnh phúc?
Hai vợ chồng ông Tư tâm sự với nhau những chuyện như
thế - không bao giờ dứt! Những ngày cuối tuần, ông bà đi chùa – đọc câu kinh tiếng
kệ và nghe các sư thầy giảng lời Phật dạy về “đạo làm người”… Có lẽ nhờ thế, mà
tuổi già của ông bà Tư được êm đềm hạnh phúc. Ông bà đã sống một cuộc đời đạo hạnh
và luôn luôn làm điều phước thiện.
Khi đến chùa, lần nào cũng thế, ông Tư chỉ cầu xin một
điều duy nhất là: “Cầu xin Đức Phật từ bi cho được mạnh khỏe đến lúc mãn phần -
đừng đau bịnh dây dưa rồi mới chết.” Có
thể lời cầu xin của ông Tư thấu đến Đấng Từ Phụ hay do sự “tự kỷ ám thị” mà một
hôm ông Tư nằm mơ thấy một điều kỳ lạ. Sáng hôm sau, trong lúc uống cà phê, ông
Tư kể cho bà Tư nghe về giấc mộng. Ông Tư ra vẻ trịnh trọng, nói:
- Đêm hôm trước, tôi thấy một giấc mơ rất lạ lùng – tỉnh
dậy, cứ tưởng như mình vừa gặp người thật.
Bà Tư phán một câu, làm ông Tư mất hứng và cái vẻ mặt
trịnh trọng của ông cũng xìu xuống:
- Ông thì đêm nào chả mộng với mơ. Đang ngủ ông ú ớ
kêu tên mấy con bồ cũ của ông làm tui mất ngủ – Có lúc lại hét lên, vung tay, đạp
chân, tui phải đánh thức ông dậy. Hỏi ra thì ông bảo: đang đánh nhau…
- Đó là những giấc mơ linh tinh, bình thường. Còn đây
là một giấc mơ đặc biệt. Tôi thấy một ông áo mũ xênh xang, xưng là thần trong
“Phủ Thiên Cung” đến gặp để giải thích chuyện tôi cầu xin được mạnh khỏe cho đến
lúc mãn phần.
Khi nói đến chuyện thần linh, bao giờ bà Tư cũng tỏ
ra nghiêm túc. Bà im lặng lắng nghe ông Tư kể tiếp:
- Ông ấy mặc áo thụng đen, đội mũ quan toà, mặt mày
phúc hậu. Bà cứ tưởng tượng ổng giống như mấy ông chánh án trong “Tối Cao Pháp
Viện” Hoa Kỳ. Ổng ấy nói: “Lời cầu xin của nhà ngươi từ bấy lâu nay đã động
lòng Phật Tổ. Ta là Thần của Phủ Thiên Cung, thấy lời cầu xin thành khẩn của
nhà ngươi được Phật Tổ chứng giám, nên hôm nay ta đến giải thích cho nhà ngươi
hiểu về Luật Nhà Trời.”
Ông Tư nhấp ngụm trà, ra vẻ trầm ngâm. Bà Tư nóng
lòng, hỏi:
- Ổng có chấp nhận hay hứa hẹn gì không?
- Ổng không
nói rõ mà vòng vo cái Luật Nhà Trời rằng: “Với vạn vật trong vũ trụ thì có quy
trình: Thành - Trụ - Hoại - Diệt; với loài người thì phải trải qua: Sinh - Lão
- Bịnh - Tử - không ai thoát khỏi bốn cái khổ trong kiếp nhân sinh.”
- Vậy là lời cầu xin của ông bấy lâu nay coi như công
cốc? Bà Tư hỏi.
Ông Tư chậm rải, trả lời:
- Không! Ông ấy nhìn tôi thương hại, rồi nói: “Nhà
ngươi đã sống một đời đạo hạnh và làm nhiều điều phước thiện, lẽ ra được toại
nguyện điều cầu xin. Nhưng Luật Nhà Trời chỉ cho những người đạo hạnh cỡ như ngươi
được hưởng lành mạnh ‘bốn cái trong năm giác quan’cho đến cuối đời, còn một giác
quan phải chịu lão hóa theo quy luật ‘Sinh, Lão, Bịnh, Tử’. Vậy, trong năm giác
quan: vị giác, xúc giác, thị giác, khứu
giác, thính giác – ngươi muốn chọn cái nào phải chịu lão hóa? Ta cho ngươi ba
ngày suy nghĩ. Ta sẽ trở lại lấy kết quả để thi hành.”
Ông Tư nhấp ngụm trà, rồi hỏi bà Tư.
- Trời sinh ra con người có 5 giác quan để cảm nhận
các kích thích ở môi trường xung quanh, mất một cái là cuộc đời mất đi một phần
thú vị. Tôi suy nghĩ mãi, bỏ cái nào cũng tiếc. Nhưng Luật Nhà Trời bắt buộc như
thế. Vậy theo ý của bà, tôi nên bỏ cái nào?
Bà Tư bóp trán suy nghĩ, rồi phát biểu:
- Người già giống như chiếc xe cũ – máy móc hư mòn, rệu
rạo cả rồi mà ông Trời cho được như vậy là phúc cho ông lắm rồi. Nhưng bây giờ
phải chọn hy sinh một cái – xem ra cũng khó nghĩ à nghen. Thị giác nhất định là
không được rồi - cuộc đời sống trong tăm tối, mù lòa thì tội nghiệp lắm…
- Vậy hy sinh cái thằng vị giác. Ông Tư đề nghị.
Bà Tư nói ngay:
- Không được! Ngày nào tôi cũng đọc sách,
hay học hỏi bạn bè để nấu nướng những món ngon, vật lạ cho ông thưởng thức để bù
lại những ngày ông đói khổ ở trong tù và những năm thiếu thốn ở trong nước. Mất
vị giác thì còn gì để tui chăm sóc, bồi bổ cho ông?
Ông Tư cảm động, âu yếm nhìn bà, nói:
- Cảm ơn bà - bà nói chí phải! Ăn đứng đầu
trong “tứ khoái” - mất vị giác thì còn gì cái thú ở đời. Vậy ta chọn cái khứu
giác?
- Ậy! Ông có cái khứu giác bẩm sinh tuyệt
vời. Tui mê và lấy ông một phần cũng do cái mũi tinh tế của ông. Ngày xưa, khi
mới quen nhau, ông tặng tôi những loại nước hoa, thứ nào cũng hợp “gu” với tôi
- tôi thích! Bây giờ nấu nướng, ông ở đằng xa vẫn nhận ra mùi và khen món ăn hấp
dẫn, làm tôi cảm thấy vui… Hy sinh cái khứu giác, uổng lắm!
Ông Tư nhớ lại ngày xưa đã chọn Chanel N5
hay CoCo Mademoiselle là do xem quảng cáo. Lương lính mà mua tặng nước hoa nổi
tiếng và mắc tiền là do tấm lòng chứ đâu phải từ cái khứu giác. Bây giờ khen
mùi thơm hấp dẫn của thức ăn là do đọc quyển sách “Đắc Nhân Tâm” của Dale
Carnegie do ông Nguyễn Hiến Lê dịch. Bà Tư đâu có hiểu hết! Ông Tư không nói
ra, chỉ cười thầm trong bụng. Nhưng chìu ý bà, ông đồng ý giữ lại cái khứu giác.
Ông còn ca tụng cái khứu giác rất quan trọng để giữ cho tỉnh yêu lâu bền và
thăng hoa. Ông nói:
- Trong dân gian có câu: “Chim quyên ăn
trái nhãn lồng/ Lia thia quen chậu vợ chồng quen hơi” - xa nhau là nhớ cái “hơi
hướng” khôn nguôi. Trong văn chương, Nguyễn Du đã tả Kim Trọng tương tư Kiều,
vì khứu giác gợi nhớ một mùi hương: “Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình”
hay trong bài thơ Khóc Bằng phi của Nguyễn Gia Thiều (có sách viết của Vua Tự Đức):
“Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng/ Xếp tàn y lại, để dành hơi.” Lãng mạn quá phải
không bà? Giữ lại cái khứu giác để nuôi dưỡng tình yêu. Vậy thì ta hy sinh cái
xúc giác?
Bà Tư suy nghĩ một hồi lâu, rồi nói:
- Cũng được! Bây giờ già cả, da dẻ nhăn
nheo, cho nó “nghỉ hưu” cũng được.
Ông Tư đắn đo, bảo:
- Cho nó “nghỉ hưu” - không còn cảm giác
gì cũng uổng đời bà ạ! Nằm bên nhau mà như hai khúc gỗ thì chán chết. Bà còn nhớ
câu ca dao: “Thương nhau cởi áo cho nhau/ Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay…” Bây
giờ già thì “Thương nhau cởi áo gãi lưng/ Rằng ai có hỏi, ta mừng đêm vui...” “Chay tịnh” hoài - đời sẽ mất vui!
- Ông như cọng bún thiu, tui như bánh bao
chiều - “còn gì nữa đâu mà âu với sầu!” Bà Tư vừa nói vừa cười tủm tỉm.
- Thì mình cởi áo gãi lưng cho nhau,
cũng thích vậy bà - ít ra cũng gỡ gạc chút đinh – có còn hơn không? Ý ông Tư
không chịu hy sinh cái xúc giác.
- Bây giờ, chỉ còn cái chót là thính
giác. Bà thấy thế nào? Ông Tư hỏi.
- Tôi thấy hy sinh thằng thính giác là
hơn cả. Bà Tư giải thích: - Mình già rồi, tai càng nghễnh ngãng càng bớt nghe
những lời thị phi – cho cái tâm thanh tịnh. Hơn nữa, thời buổi bây giờ, ở đâu
cũng lắm chuyện nhiễu nhương: tin giả, tin thật, lòng người lại lắm điêu ngoa,
xảo trá…chẳng biết đâu mà lần. Bớt nghe cho đời bớt khổ!
Ông Tư thấy lời bà Tư có lý! Hơn nữa ông
cũng chán cái đám làm truyền thông bát nháo ở Mỹ cũng như trong nước – càng
nghe nhiều càng rối... Đôi khi thấy các ông già nghe các lời bình luận tào lao
mà cứ tranh cãi nhau, sinh ra hờn giận bởi những chuyện bá vơ. Ông Tư nghĩ: chịu
“điếc lác” cho khỏe cái thân già.
Thế là ông Tư chọn hy sinh cái thính
giác – cho nó theo quy trình lão hóa. Vị thần của “Phủ Thiên Cung” ghi nhận.
Từ ngày mang bịnh lảng tai, ông Tư thấy
cuộc đời bớt nhiều phiền nhiễu, mặc dù mất đi vài cái thú như nghe ngâm thơ và
ca nhạc. Nhưng sự đời được cái này thì mất cái kia, đâu có thể tham lam muốn được
hết mọi điều. Nghĩ thế, ông Tư an phận vui sống tuổi già nghễnh ngãng.
Còn bà Tư thì cảm thấy bực mình. Từ ngày
ông chồng mang bịnh “nghễnh ngãng”, ổng không còn giận hờn, hay quan tâm đến
các lời bà nói như trước đây. Bây giờ, có lúc bà “càm ràm”- mắng mỏ, trách móc
ông - ông cứ tỉnh bơ – làm bà mất hứng!
Tuy vậy, xem ra tuổi già của ông bà Tư
như thế là hạnh phúc - mấy ai có được (?)
Có người hỏi ông Tư bí quyết. Ông trả lời:
- “Có bí quyết gì đâu, cứ theo kinh nghiệm của những người đi trước là:
- Không bán nhà để ở chung với con - chỉ ở
gần thôi. Như vậy là cuộc sống được độc lập, tự do.
- Tiết kiệm, dành dụm một số tiền đủ cấp
dưỡng cho tuổi già – không nhờ vả con cháu về tài chánh.
- Không lãnh việc trông nom cháu nội,
cháu ngoại thường trực - chỉ thăm chơi với chúng nó thôi…
- Không xía vô chuyện gia đình của con
cháu – chúng nó trưởng thành rồi đề chúng nó tự quyết định. Mình xía vô, chúng
nó không nghe - lại buồn!
Ông Tư kết luận:
- Chỉ từng ấy nguyên tắc giúp cuộc sống
tuồi già thảnh thơi, không gây phiền hà cho con cháu và những chuyện nhức đầu về
dâu, về rể.
Nhưng chuyện đời ông bà Tư đến đây chưa
chấm dứt – còn rắc rối trăm bề - gây phiền phức đến “Phủ Thiên Cung”.
Nó là thế này:
Từ ngày ông Tư mang bịnh lảng tai, những
cuộc trà đàm, hủ hỉ bên nhau thưa dần. Người “tình” của ông Tư bây giờ là cái
computer, cái iPad. Ông ôm ấp chúng nó suốt ngày đêm. Hết meo (Email) lại phết
(Facebook). Đôi khi ông quên hẳn bà vợ già!
Bà Tư tủi thân, buồn tình đi mua cái iPhone.
Ôi thôi! Nó hấp dẫn làm sao! Đủ chuyện trên trời, dưới dất…muốn tìm hiểu chuyện
gì cứ “quẹt” một cái là ra ngay. Một ông nào đó đã khuyên: “Ai ơi nghe lấy lời ta/ Chuyện gì
không biết thì tra Google.” Quả thực không sai! Bây giờ bà Tư lại mê cái iPhone
- hết “chọt” lại “quẹt”- Có lúc quên chăm sóc ông chồng già.
Hồi trước mỗi lần nói chuyện riêng tư,
không muốn cho ông Tư biết, bà nói nhỏ hoặc đi chỗ khác. Bây giờ thì bà thoải
mái. Hằng đêm, trước khi ngủ, bà thường tâm tình với các bạn cũ hoặc các bạn
phương xa gọi tới qua cái iPhone. Bà Tư nói chuyện tự nhiên, mặc dù có ông Tư nằm
bên cạnh. Bà chủ quan nghĩ rằng ông Tư bị điếc - không nghe được. Nhưng bà đã lầm!
Một đêm nọ, “người tình học trò” của bà
Tư từ Pháp gọi sang - mở đầu bằng một câu ngắn ngủi, nhưng nghe rất tình: “Tui
đây! Bà có khỏe không?” Ông Tư lắng nghe… Bà Tư đáp: “Trời ơi! Anh P – lâu quá
bặt tin anh. Sao đến bây giờ anh mới gọi? Tui vẫn khỏe… Còn anh thế nào?” Nghe
giọng thân mật của bà Tư, ông Tư nổi cơn ghen, muốn giật cái phone, cho bà một
đạp. Nhưng làm thế coi sao được, dù gì cũng là dân có học với nhau, ông Tư dằn
lòng - nằm yên, giả ngủ, lắng nghe… Bên kia tiếng nói yếu ớt, khò khè, trả lời:
“Tui chán đời mấy năm nay – tui không muốn sống nữa – mà chắc ông Trời cũng
không cho tui sống bao lâu nữa - ước gì trước lúc lâm chung, tui được gặp mặt
bà lần chót thì mãn nguyện biết bao!” Không nghe tiếng bà Tư trả lời, chỉ nghe
tiếng khóc thút thít... Động lòng trắc ẩn, ông Tư không kềm chế được, tự nhiên
bật dậy - lên tiếng:
- Ngày mai bà ra mua vé máy bay đi thăm P.
Nếu cần tui đi theo với bà - Tội nghiệp P! Cuối đời vẫn còn chung thủy với mối
tình đầu. Bà trả lời cho P biết, chúng mình sẽ sang thăm.
Bà Tư trả lời cho P và nói thêm đôi lời
thăm hỏi, rồi tắt máy.
Bấy giờ bà Tư nổi giận, quay sang kéo
tai ông Tư, nghiến răng, bảo: “Ông đâu có điếc thiệt! Thế là ông tán phét - “giả
dạng thường dân” để nghe lén chuyện người ta. Chả có ông Thần ở Phủ Thiên Cung
nào cả.
Ông Tư cười hì hì thú nhận: - Chuyện ông
Thần ở Phủ Thiên Cung là có thật, nhưng ổng cho tui “lảng tai” chứ chưa bắt tôi
điếc hẳn. Cho nên khi nghe chuyện tình lâm ly bi đát của các bà là cái tai tôi
sáng ra - nghe hết ráo! Nhờ đó, tôi mới có đề tài để viết chuyện ngắn cho bà
con đọc chơi. Mục đích là bắt cái đầu của tôi phải làm việc để ngừa bịnh lú lẫn
(Alzheimer)... chứ không có mưu đồ gì.
Bà Tư nhớ lại mấy tháng nay ông Tư viết
những chuyện tình lâm ly bi đát giống y chang chuyện tình của bà H, bà Q. đưa
lên báo. Ông Tư chỉ đổi tên nhân vật thôi. Bà Tư cười trong bóng đêm. Bà nghĩ:
ông chồng già của bà “ranh” thật, còn cái ông Thần trong Phủ Thiên Cung “khờ”quá.
Ba hôm sau ông Thần ở Phủ Thiên Cung xuất
hiện (trong giấc mơ) nói cho bà Tư biết rằng: “Ta không “khờ” đâu, nhưng thấy vợ
chồng nhà ngươi ăn ở đạo hạnh, thương yêu nhau, nên ta cho chồng ngươi chỉ điếc
đến 70% thôi, 30% còn lại để hắn nghe tiếng còi khi lái xe, tránh gây nguy hiểm.
Nếu như nhà ngươi không bằng lòng thì ta cho hắn điếc 100%. Như vậy là chồng
ngươi không còn lái xe được nữa.
Bà Tư giẫy nẩy, nói:
-
Vậy ai lái xe đưa con đi chợ, đi shopping? Con chỉ muốn chồng con không nghe được
những chuyện riêng tư của con với bạn bè qua điện thoại lúc về đêm thôi.
Ông Thần bảo:
- Được rồi! Ta có cách. Rồi ông hỏi:
- Chồng ngươi nằm ngủ bên trái hay bên phải
của ngươi và nằm thế nào?
- Dạ, hay nằm ngửa, bên phải. Bà Tư trả lời.
- Vậy, ta cho tai trái của hắn điếc 100%.
Bà Tư nghĩ lại thương chồng, bèn khẩn khoản:
- Thôi xin Thần cứ giữ như cũ để chồng
con còn nghe được sự đời mà viết thêm nhiều chuyện ngắn cho thiên hạ đọc chơi.
Ông Thần càm ràm: - Nhà ngươi thật là rắc
rối. Thôi được rồi, ta cho tai trái của hắn điếc 80%. Như vậy khi nói chuyện tình
của người ta, con cứ nói tự nhiên; còn chuyện tình của con thì đeo cái earphone
vào nói nhỏ một chút – tha hồ mà tán - chồng con không nghe được đâu. Cái earphone
bây giờ bán đầy ngoài tiệm, ra đó mua một cái mà xài.
Nói xong ông thần biến mất!
LÊ
ĐỨC LUẬN
(Tháng 7-2022)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét