Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2026

Nguyễn Trãi - Ức Trai Thi Tập - Bài 94, 95 Và 96

 


NGUYỄN TRÃI - ỨC TRAI THI TẬP - BÀI 94, 95 VÀ 96
Thầy Dương Anh Sơn 

NGUYỄN TRÃI - ỨC TRAI THI TẬP
MỘT SỐ BÀI THƠ ĐƯỢC CHO LÀ CỦA NGUYỄN TRÃI
LÀM TRONG GIAI ĐOẠN SANG TRUNG HOA (15 bài)

Bài 94

ĐỀ NAM HOA THIỀN PHÒNG                                               題南華禪房

Bán sinh khâu hác tiện u thê,                                                     半生丘壑便幽棲,
Thiền tháp phân minh thính điểu đề.                                         禪榻分明聽鳥啼.
Vạn lý nam lai sơn thủy viễn,                                                    萬里南來山水遠,
Nhất sinh năng kỷ quá Tào Khê.                                                一生能幾過曹溪.

Dịch nghĩa:

Nửa đời quen sống chốn hang núi yên tĩnh vắng vẻ , - Nơi giường thiền, nghe rõ ràng tiếng chim hót vang. – Từ phương nam muôn dặm đến nơi núi sông xa xôi, - Một đời người mấy khi ghé qua Tào Khê ?

Tạm chuyển lục bát:

ĐỀ PHÒNG THIỀN Ở CHÙA NAM HOA.

Nửa đời hang hốc nghỉ yên,
Lắng nghe chim hót giường thiền rõ vang.
Dặm ngàn non nước phương nam,
Một đời mấy thuở ghé sang suối Tào?!

Chú thích:

Đây là một trong 15 bài thơ vẫn còn tồn nghi về việc Nguyễn Trãi đi qua Trung Hoa. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 大越史記全書 của Ngô Sĩ Liên biên soạn.
Sau này, Phạm Công Trứ cùng nhóm của ông hiệu chỉnh và soạn tiếp cũng chỉ đề cập việc Nguyễn Trãi cùng em trai có đi theo đưa tiễn cha là Nguyễn Phi Khanh bị quân nhà Minh bắt về Trung Hoa những nhân tài đất Việt. Nguyễn Trãi bịn rịn khóc tiễn cha ở cửa ải Nam Quan và được cha dạy rằng phải quay về tìm cách giúp nước đánh giặc xâm lược. Ông bị quân Minh quản thúc một thời gian ở Đông Quan, rồi sau đó tìm đường vào Thanh Hóa giúp Lê Lợi khởi nghĩa chống giặc Minh. Mặt khác, thơ văn thời Đường Tống được truyền bá sang nước ta vẫn được các bậc trí thức yêu chuộng làm nguồn cảm hứng để ngâm vịnh. Vì thế, bài thơ này có thể ra đời do cảm hứng của nhà thơ khi “đề vịnh” những bài thơ từ Trung Hoa nói về cảnh sắc chùa Nam Hoa và các bài “kệ thiền” nơi dòng thiền “đốn ngộ” của Huệ Năng phát triển rực rỡ. Đồng thời, tinh thần đạo Phật theo phái Thiền tông của Lục tổ Huệ Năng rất được giới tăng sĩ và các bậc trí thức thời đó hâm mộ từ thời nhà Lý, nhà Trần cho đến thời nhà Lê bấy giờ. Câu thứ 4 của bài thơ có hai ngụ ý : Một là: mấy ai có dịp để qua Trung Hoa và ghé thăm chùa Nam Hoa nổi tiếng với thiền sư Huệ Năng cùng con suối gần chùa là Tào Khê ! ; Hai là: môt đời người ngắn ngủi mấy thuở để có dịp được ghé qua con suối Tào Khê danh tiếng ! Với lại trong câu thơ thứ 3, Ức Trai tiên sinh đã bổ sung thêm khi mô tả sự xa cách về địa lý của phương bắc và phương nam:”Vạn lý nam lai sơn thủy viễn” (nghĩa là: phải trải qua muôn ngàn dặm sông núi xa xôi để đến nơi đó). Cho nên, ý thứ hai cũng giúp làm rõ đó chỉ là mong muốn ghé Nam Hoa Tự và Tào Khê, nhìn từ bầu trời phương Nam xa xôi cách trở mà thôi ! Thêm vào đó, Nguyễn Trãi cũng là người từng thực hành những pháp môn Thiền tông trong đó chọn nơi tu tập ở nơi “khâu hác” và “u thê”, nghĩa là nơi hang hốc vắng vẻ kín đáo. (câu, xem thêm CÔN SƠN CA, bài 78). Ngoài ra, chúng ta đã thấy được những bài thơ trước đây Ức Trai tiên sinh là một nhà nho có tinh thần yêu nước rất mực, tận trung với vua trong việc đánh bại kẻ thù phương bắc và cùng triều đình xây dựng lại đất nước. Việc nước xong, ông dành nhiều công sức và thời gian để tìm hiểu và sống với tinh thần hiện thế của đạo Phật, Nguyễn Trãi đã cho thấy ông rất hiểu biết tư tưởng của đạo Phật đặc biệt là lịch sử của phái Thiền tông với biểu tượng dòng suối Tào (Tào Khê). Và chính nhờ dung hòa ba tư tưởng lớn của Nho,Phật và Lão Trang ông đã có bài “Côn Sơn Ca” ( xem: Dương Anh Sơn, Ức Trai Thi Tập của Nguyễn Trãi, NXB Văn Hóa Saigon, 2009, tr 191) là một tuyệt tác trong thi ca nước Việt.....
- Nam Hoa 南華: tức Nam Hoa Tự, ngôi chùa lớn ở Khúc Giang 曲江, Quảng Đông, Trung Hoa do nhà sư người Ấn Độ pháp danh là Trí Dược Tam Tạng 智药三藏 đến Trung Hoa xây dựng năm 502 đời nhà Lương Vũ đế với tên là Bảo Lâm Tự để truyền giáo pháp của đức Phật. Năm 705, đổi thành Trung Hưng Tự; rồi 708 lại đổi thành Pháp Tuyền Tự. Đời Tống Thái tổ ,vào năm 968, chùa được đổi tên là “Nam Hoa tự 南華寺” cho đến ngày nay. Chùa gắn liền với tên tuổi của Lục tổ Huệ Năng đã có công phát triển và “kết hoa” cho phái Thiền tông ở phía Nam Trung Hoa.
Huệ Năng thiền sư là người hoằng dương dòng Thiền tông lấy sự “đốn ngộ” (giác ngộ ngay tức thì) hay “kiến tánh thành Phật”(thấy ngay cái tánh sẽ thành Phật) làm nền tảng. Phái Thiền tông của Huệ Năng được gọi là “Nam đốn 南頓”, khác với “tiệm ngộ”, ngộ đạo dần dần do sư Thần Tú truyền giảng (cũng là đệ tử của Ngũ tổ Hoàng Nhẫn cùng Huệ Năng), phát triển mạnh về phía Bắc Trung Hoa gọi là “Bắc tiệm 北漸” chú trọng việc lo tu tâm dưỡng tánh cho tâm càng ngày càng sáng để ngộ đạo! Chùa Nam Hoa được xem là tổ đình của dòng thiền “Trúc Lâm” với đệ nhất tổ là Bồ Đề Đạt Ma cũng từ Tây vực sang Trung Hoa giảng pháp truyền thừa cho đến đời thứ sáu của ngài Huệ Năng. Khi ngài Huệ Năng viên tịch, nhục thân vẫn còn giữ cho đến nay tại chùa. Cho nên, Nam Hoa Tự là tổ đình của Thiền phái Trúc Lâm do Bồ Đề đạt Ma và năm tổ khác truyền giảng cho đến đời tổ thứ 6 là Huệ Năng là chấm dứt việc truyền danh hiệu “tổ” [ Đệ nhất tổ: Bồ Đề Đạt Ma (-528], đệ nhị tổ: Huệ Khả (486-593), đệ tam tổ: Tăng Xán (-606), đệ tứ tổ: Đạo Tín ((580-651), đệ ngũ tổ: Hoằng Nhẫn (601-674), đệ lục tổ : Huệ Năng (638-713).
Kể từ thời Lục tổ Huệ Năng không còn truyên y và bát nữa, chỉ lấy tâm truyền tâm, lấy “kiến tánh thành Phật” làm kim chỉ nam trong tu học.
- Thiền 禪: chỉ chung một phép tu trong đạo Phật Đại thừa với giáo pháp “Tiệm ngộ”, “minh tâm kiến tánh” (làm sáng cái tâm dần dà sẽ thấy được, ngộ được cái tánh) của sư Thần Tú. Cùng thời với pháp “Đốn ngộ” (giác ngộ ngay tức thì) của ngài Huệ Năng. Phái thiền của sư Thần Tú phát triển ở phía bắc Trung Hoa (Bắc tiệm). Phái thiền của Huệ Năng vẫn quen gọi là phái “Trúc Lâm” lại phát triển rực rỡ ở phía nam (Nam đốn) và cũng như được truyền sang Nhật Bản, Cao Ly và Việt Nam rất mạnh mẽ...
- thiền phòng 禪房: thường là căn phòng nhỏ để cho một thiền sư nghỉ dưỡng và tu tập...
- khâu hác 丘壑: gò núi và hang hốc hiểm hóc...
- tiện: 便 quen thuộc, thuận tiện, yên ổn , đơn giản, ngay tức thì....
- u thê 幽棲: nơi nghỉ ngơi hay ẩn dật yên ổn nơi vắng vẻ tối tăm, nơi ở chỗ sâu kín xa cách bên ngoài...
- thiền tháp 禪榻: giường hẹp lại dài để các thiền sư nằm nghỉ hay tu tập...
- năng kỷ 能幾: có thể mấy lần, có thể được bao lần....
- Tào Khê 曹溪: suối Tào chảy qua trước chùa Nam Hoa, tượng trưng cho ranh giới (Tào) giữa nơi tu tập yên tĩnh và cõi đời ồn ào náo nhiệt dưới chân núi. Nơi đây có bia của nhà thơ lớn là Liễu Tôn Nguyên đời Đường ghi công trạng và phép tu của Lục Tổ Huệ Năng, người được vua ban tặng danh hiệu “Tào Khê Lục Tổ Đại Giám”.

Bài 95

THÁI THẠCH HOÀI CỔ                                                          采石懷古

Thái Thạch tằng văn Lý trích tiên,                                             采石曾聞李謫仙,
Kỵ kình phi khứ dĩ đa niên.                                                       騎鯨飛去已多年。
Thử giang nhược biến vi xuân tửu,                                            此江若變為春酒,
Chỉ khủng ba tâm thượng tuý miên.                                          只恐波心尚醉眠。

Dịch nghĩa:

Từng nghe vị tiên bị đày họ Lý nơi sông Thái Thạch, - Cưỡi con cá kình bay đi đã nhiều năm rồi. – Nếu nước sông này biến thành nước rượu xuân, - Chỉ e rằng bên trên lòng con sóng vẫn còn say giấc nồng.

Tạm chuyển lục bát:

NHỚ SÔNG THÁI THẠCH XƯA.

Từng nghe họ Lý tiên đày,
Qua nhiều năm cưỡi kình bay bao lần!
Sông này thành nước rượu xuân!
E rằng giữa sóng giấc nồng còn say!

Chú thích:

Cũng như bài thơ trên, bài thơ này khi phân tích cặn kẽ sẽ bác bỏ giả thuyết Nguyễn Trãi đi qua bên Trung Hoa. Nguyễn Trãi cũng như nhiều nho sĩ đồng thời và sau này đọc rất nhiều thơ phú thời Đường Tống. Những tên tuổi lớn của thi ca Trung Hoa như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tô Đông Pha, Đào Tiềm, Thôi Hạo, Lý Thương Ẩn, Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn..v..v.. được thi nhân nước ta biết đến và thường đề cập trong thơ đề vịnh của mình. Ở bài này, tựa bài thơ đã cho thấy rõ Nguyễn Trãi nhân đọc thơ của Lý Bạch, nhớ đến câu chuyện xưa được truyền kỳ và sách vở Hán văn ghi lại về cái chết của Lý Bạch trên sông Thái Thạch. Nhân đó ông đã cảm hứng ngâm vịnh và làm bài thơ này. Có một số người lại dịch là : “Ở sông Thái Thạch nhớ chuyện xưa”. (xem : thivien.net/Nguyễn Trãi) đã mặc nhiên công nhận chứ không có bằng chứng nào là Nguyễn Trãi đã “ở” (tại 在) và đã có mặt bên sông Thái Thạch để làm bài thơ tưởng nhớ Lý Bạch xa xưa!. Nguyễn Trãi không ở Thái Thạch bên Trung Hoa mà chỉ ngẫu hứng làm thơ nhân đọc thơ và cuộc đời của vị “trích tiên” này thôi!
Cuộc đời và thơ của Lý Bạch là nguồn cảm hứng của biết bao nhiêu người yêu thi ca từ thời của ông cho đến nay....
- Thái Thạch 采石: đây là con sông gắn liền với cuộc đời huyền thoại của Lý Bạch nằm ở tỉnh An Huy, Trung Hoa còn gọi là Thái Thạch Cơ 采石矶, một thắng tích nổi tiếng kề bên Trường Giang có một mỏm đá nhô ra trên dòng Trương Giang được người đời sau gắn kết là nơi Lý Bạch thường ra nằm ngắm trăng. Câu chuyện vẫn được kể là Lý Bạch trong cơn say rượu đi thuyền trên sông Thái Thạch cúi xuống muốn vớt ánh trăng nên bị bổ nhào xuống nước và chết đuối. Người đời hâm mộ con người sống tự do và phóng khoáng như Lý Bạch nên đã dựng một đài tưởng niệm bên sông đặt tên là “Tróc Nguyệt Đài 捉月臺” (nghĩa là : đài bắt trăng) để huyền thoại hóa cuộc đời và nơi ông thuộc về với ánh trăng, với những cơn say và nhất là tinh thần yêu chuộng thiên nhiên cùng tinh thần tự do của họ Lý! Câu chuyện này cũng chỉ là một giai thoại đẹp đẽ về cái chết của một thiên tài làm thơ được người đời tô vẽ dẫu rằng có thể ông chỉ mất đi vì bệnh năm 762 ở nhà người thân ở vùng phụ cận tên là Đương Đồ gần bờ sông Thái Thạch. Sách “Cựu Đường Thư 舊唐書” và “Tân Đường Thư 新唐書” (ghi chép về cuộc đời và thơ văn các nhà thơ đời Đường) chưa từng ghi chép việc ông bị chết đuối vì “vớt trăng” (tróc nguyệt). Mặt khác, những câu chuyện trong sách Đường Thư chắc chắn được đưa vào nước ta đã được nhiều nho sĩ hay nhà thơ tìm đến để ngâm ngợi hay đề vịnh. Cho nên, việc Nguyễn Trãi qua Trung Hoa v2 làm thơ cgi3 là sự ức đoán không có bằng chứng. Cứ tạm xem là giả thuyết mà thôi.
- hoài cổ 懷古: tiếc nhớ chuyện xưa, nhớ về chuyện cũ thông qua những ý tưởng đã sẵn có hay từ một bài thơ, một bức tranh họa...v.v... về thời cổ xưa mà đề vịnh. Người ta gọi đó là hoài 懷 (nhớ nhung tiếc nhớ ,hoài niệm...v.v...)
- trích tiên 謫仙: vị tiên trên cung điện của Ngọc Hoàng Thượng đế bị đày xuống trần hay là một vị tiên giáng thế! Danh xưng “trích tiên” không phải do Lý Bạch tư xưng ! Người đầu tiên nổi tiếng dùng từ “trích tiên” để tôn xưng Lý Bạch là nhà thơ lớn Hạ Tri Chương 賀知章. “Đường thư” và các giai thoại đời Đường kể rằng khi Lý Bạch đến kinh đô Trường An, ông đã đem thơ mình cho Hạ Tri Chương xem. Họ Hạ đọc xong vô cùng kinh ngạc về tài làm thơ rất phóng dật, nhẹ nhàng và khinh khoái của Lý Bạch. Ông đã nhận xét: “Tử nãi thiên thượng trích tiên nhân dã! 子乃天上謫仙人也” nghĩa là: Ông đúng là vị tiên trên trời bị đày xuống cõi người! Từ đó. Người đời sau gọi Lý Bạch là “Thi tiên 詩仙” hay “Trích tiên 謫仙” phù hợp với phong cách tiêu dao, thoát tục của Lý Bạch....

Bài 96

DU NAM HOA TỰ                                                                   遊南華寺

Thần tích phi lai kỷ bách xuân,                                                  神錫飛來幾百春,
Bảo Lâm hương hoả khế tiền nhân.                                           寶林香火契前因。
Hàng long phục hổ cơ hà diệu,                                                  降龍伏虎機何妙,
Vô thụ phi đài ngữ nhược tân.                                                   無樹非臺語若新。
Điện trắc khởi lâu tàng Phật bát,                                                殿側起樓藏佛缽,
Kham trung di tích thuế chân thân.                                            龕中遺跡蛻真身。
Môn tiền nhất phái Tào Khê thuỷ,                                             門前㇐派漕溪水,
Tẩy tận nhân gian kiếp kiếp trần.                                               洗盡人間劫劫塵。

Dịch nghĩa:

Cây gậy thần dã bay đến đây từ mấy trăm mùa xuân rồi! – Khói hương ở chùa Bảo Lâm có mối nhân duyên từ kiếp trước. – Làm cho rồng hổ phải hàng phục tuân theo là phương pháp thật là khéo léo kỳ diệu! – Không cây,chẳng có đài: lời nói như còn mới nguyên! (c.1-4)
Dựng lầu, bên mái điện thờ cất giữ chiếc bát của người giác ngộ, - Bên trong chỗ thờ vẫn còn dấu vết hóa thân của người đạt đạo. – Trước cửa chùa, một nhánh của con suối Tào chảy, - Rửa sạch hết bụi bặm của nhiều kiếp người trong cõi đời!

Tạm chuyển lục bát:

VIẾNG CẢNH CHÙA NAM HOA.

Gậy thần bay đến trăm xuân!
Duyên xưa, hương lửa Bảo Lâm hẹn rồi.
Trị rồng, khuất hổ khéo thôi!
“Cây” “Đài” chẳng có, còn lời mới nguyên.
Dựng lầu bát Phật giữ bên,
Hóa thân bậc giác thờ trên dấu còn.
Tào Khê trước cửa dòng con,
Cõi người muôn kiếp sạch trơn bụi trần.

Chú thích:

** Một lần nữa, qua bài thơ 94, 95 và 96 này trong danh sách các bài thơ (15 bài) được cho là của Nguyễn Trãi làm ra khi sang Trung Hoa, chúng ta căn cứ vào sử liệu đều thấy:
1/ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 大越史記全書 của nhóm Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ, Lê Hy.., Lịch Triều hiến chương loại chí 歷朝憲章類誌, Khâm Định Việt sử thông giám cương mục 欽定越史通鑑綱目 của Quốc sử Quán Triều Nguyễn, Viêt Nam Sử Lược 越南史略 của Trần Trong Kim..v..v. cùng các ghi chép liên quan đến Ức Trai tiên sinh đều không nói đến việc ông từng đi sang Trung Hoa. Cho nên, cứ tạm thời đặt vào loại tồn nghi hay tạm gọi là giả thuyết mà thôi để chờ đợi một sử liệu nào đó làm sáng tỏ chuyện này!
2/ Như đã đề cập trong chú thích hai bài thơ bên trên, các nhà thơ nước ta từ thời nhà Lý,nhà Trần ,nhà Lê, nhà Nguyễn ..v..v đều hâm mộ thơ ca Trung Hoa, đặc biệt là của thời Đường và Tống. Dù không bao giờ đi Trung Hoa (chỉ những người thực sự làm sứ giả đi việc triều đình nhà Nguyễn như Nguyễn Du), vẫn lấy thơ văn hay những bức họa về cảnh vật bên ấy khi cảm hứng để ngâm họa, đề vịnh...v.v... đặt mình vào trong tứ thơ hay hình ảnh, cảnh vật...v .v... Trung Hoa. Bài thơ này cũng thế!
Dù nhan đề bài thơ ghi rõ DU NAM HOA TỰ với nghĩa “Du” là đi chơi, đi viếng phong cảnh hay rong chơi nhàn nhã...v.v.. Tuy nhiên, không nhất định Nguyễn Trãi phải đi qua Trung Hoa đến chùa Bảo Lâm hay Nam Hoa(968) sau này hầu làm thơ!. Nhà thơ có thể “rong chơi” bằng trí tưởng, bằng vào sử liệu viết về chùa Nam Hoa và các câu chuyện được ghi lại về cuộc đời của Lục tổ Huệ Năng để mượn cảnh diễn ý hay làm thơ vịnh cổ đã là nguồn nguồn cảm hứng cho mình. Cho nên ,việc Nguyễn Trãi từng đi qua Trung Hoa chỉ là một giả thuyết chứ không có sử liệu nào đã chứng minh.
Bài thơ DU NAM HOA TỰ là một bài thơ cho thấy sự hiểu biết sâu sắc của Ức Trai tiên sinh về lịch sử của phái Thiền tông của Lục tổ Huệ Năng nói riêng và giáo pháp huyền diệu của đức Phật ngàn xưa. Chùa Bảo Lâm và về sau đổi tên thành Nam Hoa Tự gắn liền với tiếng tăm của Thiền sư Huệ Năng.
Chùa Nam Hoa được xem là Tổ Đình của phái thiền Nam tông 南宗禅. Còn con suối Tào Khê [nghĩa là: con suối ngăn cách (tào) dưới chân chùa] được gọi là Tào Khê Tổ Đình 溪祖庭. Dòng thiền của sư rất được các sư thời nhà Trần ở nước ta hâm mộ và phát triển mạnh với thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do các vua đầu nhà Trần và nhiều thiền sư khác dẫn dắt và chọn con đường của ngài Huệ Năng để tu tập và truyền giảng. Nếu đi sâu vào Ức Trai Thi Tập, chúng ta sẽ nhận ra rất nhiều ảnh hưởng đạo Phật trong tác phẩm này. Bài thơ không đặt trọng tâm vào việc đề vịnh phong cảnh của chùa Nam Hoa mà cho thấy sự hiểu biết của Nguyễn Trãi về sự phát triển đạo Phật theo con đường mới mẻ của Huệ Năng rất đáng được kính ngưỡng. Con đường đó đã nở hoa trên đất Trung Hoa và lan truyền sang Nhật Bản, Cao Ly và Việt Nam. Dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử từ thời nhà Trần đã làm cho đạo Phật ở nước Nam chúng ta có thêm sức sống mới. Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu bài thơ đậm màu sắc Thiền tông này:
- Hai câu đề (1 và 2): Thần tích phi lai kỷ bách xuân 神錫飛來幾百春, Bảo Lâm hương hỏa khế tiền nhân 寶林香火契前因: Thần tích hay cây tích trượng (của bậc cao tăng) từng chỉ nơi lập chùa hoằng pháp đã mấy trăm năm rồi. Chùa Bảo Lâm nơi có khói hương thờ cúng, phù hợp (khế 契) với nguyên nhân từ kiếp trước (từ dùng trong đạo Phật : tiền nhân 前因: nguyên do từ kiếp trước mới có hậu quả sau này)...
- Hai câu thực (3 và 4) : Hàng long phục hổ cơ hà diệu 降龍伏虎機何妙, Vô thụ phi đài ngữ nhược lân 無樹非臺語若新: hàng phục rồng và hổ rất là kỳ diệu. Đó là cách nói chỉ sự chiến thắng, hàng phục chính bản tâm của mình.
Đức Phật ngày xưa thường dạy: “Thắng ngàn quân không bằng tự thắng mình”. Thắng mình là hàng phục cái tâm còn bay nhảy như rồng hay hung hiểm như hổ! “Không có cây, chẳng có đài, lời nói từ xa xưa vẫn còn mới nguyên!”. Nguyễn Trãi với sự hiểu biết bao quát về Thiền tông Trung Hoa, đặc biệt với thiền pháp của Lục tổ Huệ Năng (638-713), ông đã thu gọn trong bốn chữ “Vô thu,phi đài 無樹非臺”. Bốn chữ rút gọn của ông với hàm ý sâu sắc khi nói về câu kệ của ngài Huệ Năng:” Bồ Đề vốn chẳng phải là cây, Gương sáng chẳng phải là đài (Bồ đề bổn vô thụ, Minh kính diệc phi đài 菩提本無樹, 明鏡亦非臺) giờ rất cô đúc và dễ nhớ! Và Ức Trai tiên sinh cũng nhấn mạnh lời dạy của ngài Huệ Năng vẫn còn mới, sau 700 năm truyền giảng. Cho đến thời của Nguyễn Trãi, lời giảng dạy của Huệ Năng đã soi sáng thêm và nối tiếp những lời dạy của đức Phật từ ngàn xưa. Hay nói khác hơn, lời giảng của ngài Huệ Năng được chư tôn Thiền sư ghi lại và nâng lên hàng KINH gọi là PHÁP BẢO ĐÀN KINH mặc nhiên công nhận ngài là bậc Bồ Tát hay người giác ngộ (Bhudda, tiếng Sanskrit, nghĩa là Phật, là người giác ngộ chân lý tối thượng). Cho nên, sự ngưỡng mộ của nhiều thiền sư và bậc thiện tri thức ở nước ta không phải là sự kính ngưỡng bình thường mà vì lời giảng của Huệ Năng đã chiếu sáng vào bản tâm, soi rọi đường đi chân chánh (chánh đạo) để hiểu thấu những lời đức Phật trao truyền!
- Hai câu luận (5 và 6): Điện trắc khởi lâu tàng Phật bát 殿側起樓藏佛缽, Kham trung di tích thuế chân thân 龕中遺跡蛻真身 nghĩa là: bên hiên mái điện có cất giữ bình bát của bậc giác ngộ (Phật), Trong chỗ thờ phụng (kham) còn nhục thân của ngài (thuế chân thân : xác thân hay hóa thân, nhục thân của bậc cao tăng đã giác ngộ, đã liễu đạo ). Chữ “Phật”: dịch từ tiếng Phạn Sanskit là Bhudda hay là người giác ngộ ,người thấy được lẽ đạo sâu xa. Các vị Tổ của Thiền tông Trung Hoa và đặc biệt là Lục tổ Huệ Năng là những người giác ngộ. Cho nên, văn thơ Trung Hoa hay Việt Nam vẫn ca ngợi đó là đấng đại giác hay thành đạo, thấy được chân tính và vẫn gọi bằng danh hiệu Phật.
- Hai câu kết (7 và 8): Môn tiền nhất phái Tào Khê thủy 門前㇐派漕溪水, Tẩy tận nhân gian kiêp kiếp trần 洗盡人間劫劫塵: Phía trước cửa chùa, một nhánh suối của Tào Khê. Hay nói rộng ra, từ nhánh suối Tào Khê ấy sẽ là nguồn nhánh (phái), mở ra một phái Thiền Nam tông theo lối “đốn ngộ” nở hoa ở nhiều vùng phía nam. Và dòng suối mới mẻ này bằng trí huệ của bậc giác ngộ như ngài Huệ Năng đã mở ra một chương mới cho Phật giáo Trung Hoa khi ngài Huệ năng truyền giảng ý chỉ của đức Phật Thích Ca xưa không bằng Phạn ngữ bên Ấn Độ mà dùng Hán văn để giảng đạo mở kinh tạo ra một luồng gió mới cho đạo Phật ở Trung Hoa (nên lời giảng của ngài được chư tăng tôn là PHÁP BẢO ĐÀN KINH có tầm vóc như lời giảng của đức Thích Ca hay là của bậc giác ngộ). Phái Thiền Nam tông đã góp phần giúp cho muôn kiếp cõi người rửa sạch bụi trần ô tạp bằng con đường trí tuệ của đại thừa gần gũi và hiệu quả trong quá trình làm sáng tỏ chân như cho những ai đi tìm lẽ đạo chân chính.

Dương Anh Sơn
(2009)

(Lần đến: ỨC TRAI THI TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI – Bài 97, 98 và 99)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét