Thứ Hai, 27 tháng 2, 2023

Thơ Tô Đông Pha - Bài 3

 


THƠ TÔ ĐÔNG PHA - Bài 3
Thầy Dương Anh Sơn

Bài 3

THÍNH HIỀN SƯ CẦM                                                        聽賢師琴

Đại huyền xuân ôn hoà thả bình,                                           大絃春溫和且平,
Tiểu huyền liêm chiết lượng dĩ thanh.                                   小絃簾折亮以清。
Bình sinh vị thức cung dữ giốc,                                             平生未識宮與角,
Đãn văn ngưu minh áng trung.                                              但聞牛鳴盎中。
Trĩ đăng mộc môn tiền bác trác,                                           雉登木 門前剝啄,
Thuỳ khấu môn sơn tăng vị nhàn.                                        誰叩門 山僧未閑。
Quân vật sân,                                                                         君勿嗔,
Quy gia thả mịch thiên hộc thuỷ,                                          歸家且覓千斛水,
Tịnh tẩy tùng tiền tranh địch nhĩ.                                          淨洗從前箏笛耳。
Tô Đông Pha                                                                        蘇東坡

Dịch nghĩa:

Sợi dây đàn lớn nghe như là mùa xuân ấm áp và lại nhẹ êm, hòa dịu-
Sợi dây đàn nhỏ nghe như tiếng của bức mành tre gãy gọn thanh thoát – Cả đời chưa hề biết đến những “cung” với “giốc” là gì – chỉ nghe tiếng con trâu kêu rống trong chiếc chậu sành nhỏ! (c.1-4) – Con chim trĩ nhảy lên cây trước cửa, khi có tiếng gõ cửa – Ai đó đã gõ cửa khi sư ở núi chưa được rảnh rang!? - Xin anh chớ giận! Hãy quay về nhà sửa soạn kiếm cho một ngàn thùng nước – Rửa cho sạch lỗ tai có tiếng đàn tranh hay tiếng sáo đã đem theo trước đây (c.5-9)

Tạm chuyển lục bát:

NGHE SƯ HIỀN ĐÀN

Sợi to: xuân ấm nhịp nhàng,
Sợi con: gãy gọn tre mành vút cao.
Cả đời “cung” “giốc” biết đâu!
Chậu sành nghe rống tiếng trâu trong này!
Trĩ nghe gõ cửa leo cây,
Sư chưa kịp rảnh, cửa ai gõ vào.
Xin anh chớ có giận nào!
Về nhà thùng nước kiếm sao đủ ngàn.
Sạch tai tranh, sáo đã mang......

Chú thích:

- huyền 絃: tức huyền cầm, một loại nhạc khí tương truyền do vua Thuấn trong cổ sử Trung Hoa làm ra còn gọi là cổ cầm 古琴 (Kinh Lễ: “Thuấn tác ngũ huyền chi cầm 舜作五絃之琴”. Về sau thêm hai dây Văn, Vũ nữa nên gọi là Thất huyền cầm.
- xuân ôn hòa thả bình 春溫和且平: nghe như mùa xuân ấm áp, điều hòa thong thả nhẹ nhàng.
- liêm chiết 簾折: tiếng lách cách như màn tre hay đồ dung bằng tre bị gãy.
- lượng 亮: thanh âm cao vút, thanh thoát, sáng láng, tin tưởng.
- vị thức 未識: chưa hề biết đến, chưa biết...
- cung, giốc 宮, 角: hai trong 5 âm (五音) trong nhạc lý cổ xưa của Á Đông gồm có: cung, thương, giốc, chủy và vũ 宮商角徵羽.
- đãn văn 但聞: chỉ nghe đến.
- áng 盎: chậu bằng sành nhỏ để đựng nước.
- bác trác 剝啄: miếng sắt hay gỗ trước các tự viện hay cửa nhà lớn để đập cửa, tiếng đập cửa...
- khấu môn 叩門: gõ, đập, nắm, kéo... cánh cửa...
- thả mịch 且覓: sửa soạn tìm kiếm.
- tịnh tẩy 淨洗: rửa dọn cho sạch sẽ.
- tùng tiền 從前: đã theo từ trước. Ở đây Tô Đông Pha nói đến những tiếng đàn tranh và tiếng sáo đã từng biết đến và thưởng thức nên được gột rửa cho thật sạch mới có thể lắng nghe tiếng đàn huyền 絃琴 thoát tục, trong lắng, thanh tao của nhà sư ở núi tên Hiền.

----------------------------------------

** Đính chính: Trong Bài 2 -THƠ Tô Đông Pha- lần trước, câu 7 đã dịch âm là: “Khứ niên Thôi Hộ khước trùng lai”, xin chỉnh lại là “Khứ niên Thôi Hộ nhược trùng lai“ (chữ NHƯỢC 若, chứ không phải chữ KHƯỚC 卻 với nghĩa trong câu này là: kịp đến, nếu như......
(Lần đến: THƠ TÔ ĐÔNG PHA – Bài 4)

Dương Anh Sơn


Chương Trình Định Cư Tị Nạn Theo Diện Tư Nhân Bảo Lãnh Của Hoa Kỳ

 

Giám đốc và nhân viên điều hành của các văn phòng chi nhánh của BPSOS tại 6 tiểu bang tại buổi họp ở Orange County, California, ngày 21 tháng 2, 2023

CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH CƯ TỊ NẠN THEO DIỆN TƯ NHÂN BẢO LÃNH CỦA HOA KỲ CẬP NHẬT CỦA BPSOS NGÀY 26/02/2023
Mạch Sống 

http://machsongmedia.org


Ngày 17 tháng 2, BPSOS công bố mục tiêu hình thành 120 nhóm bảo lãnh tư nhân trước cuối tháng 6. Đến nay có 45 nhóm bảo lãnh đã hoặc đang được hình hành với sự phân bổ theo tiểu bang như sau: Alabama (1), California (3), Florida (2), Georgia (1), Hawaii (1), Minnesota (9), Mississippi (4), North Carolina (4), Pennsylvania (2), Rhode Island (2), Texas (7), Virginia (1), Washington (8).


Mục tiêu của BPSOS là hình thành 120 nhóm bảo lãnh nhằm định cư khoảng 1/3 của tổng số 1000 người Việt đã có quy chế tị nạn ở Thái Lan theo chương trình bảo lãnh tư nhân mới được chính phủ Hoa Kỳ công bố. Số 2/3 còn lại, chúng tôi vận động định cư qua các chương trình có sẵn của các chính phủ như Hoa Kỳ, Canada, Úc, Pháp, Tân Tây Lan, v.v.


Để đạt mục tiêu 120 nhóm bảo lãnh, BPSOS đã huy động sự tiếp tay đồng loạt của hệ thống các văn phòng chi nhánh cũng như các nhóm thân hữu của BPSOS ở nhiều tiểu bang Hoa Kỳ.


Hỗ trợ cho các nhóm bảo lãnh đã và đang hình thành


Trong số 45 nhóm bão lãnh đã hoặc đang hình thành, 25 nhóm biết trước những người họ muốn giúp định cư. Chẳng hạn, một hội thánh Tin Lành muốn bảo lãnh cho 5 gia đình là thân nhân của một tín hữu trong hội thánh. Số 20 nhóm còn lại yêu cầu chúng tôi giới thiệu hồ sơ tị nạn chiếu theo một số tiêu chí mà họ đề ra.


Để hỗ trợ cho cả hai thành phần này, toán thiện nguyện viên của BPSOS ở Hoa Kỳ, do Ts. Phan Quang Trọng, điều phối đang:


1.- Hướng dẫn từng nhóm bảo lãnh đã được hình thành hoàn tất thủ tục ghi danh để sẵn sàng xúc tiến việc nhận định cư ngay khi chương trình bảo lãnh tư nhân được áp dụng cho đồng bào tị nạn ở Thái Lan.


2.- Kết nối các nhóm bảo lãnh ở Hoa Kỳ với các gia đình tị nạn thích hợp ở Thái Lan để 2 bên giữ liên lạc trực tuyến.


3.- Nới rộng chương trình dạy Anh văn cho các gia đình muốn chuẩn bị cho việc định cư trong tương lai.


Toán thiện nguyện viên của BPSOS ở Thái Lan, do Mục Sư Jordan Smith điều phối, tiếp tục:


1.- Phối hợp với toán luật sư của BPSOS để lọc ra các trường hợp đã có quy chế tị nạn và đáp ứng các tiêu chí do nhóm bảo lãnh đề ra.


2.- Thông báo với Cao Uỷ Tị Nạn LHQ về các hộ gia đình có triển vọng được tư nhân bảo lãnh để sớm phỏng vấn định cư và chuyển hồ sơ cho chính phủ Hoa Kỳ.


3.- Cung cấp thông tin chính xác đến cộng đồng người Việt tị nạn ở Thái Lan để họ tự đề phòng các tin sai và tin giả.


Tiếp tục vận động hình thành thêm nhóm bảo lãnh


Tuy đã đạt 37.5% mục tiêu trong vòng 10 ngày, chúng tôi tiếp tục vận động các nhóm người VIệt ở khắp Hoa Kỳ tiếp tay định cư 330 đồng bào tị nạn còn kẹt ở Thái Lan, trong đó có không ít người với trên 20 năm lưu lạc tìm tự do. Để đạt mục tiêu này, chúng tôi sẽ:


1.- Giúp đồng hương ở Hoa Kỳ thấu hiểu tình cảnh của đồng bào ở Thái Lan qua lời kể của một số người tị nạn đồng ý lên tiếng.


2.- Phổ biến lời kêu gọi của những người có uy tín trong cộng đồng hoặc có công cán đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ người Việt tị nạn.


3.- Huy động các hội thánh Tin lành Hoa Kỳ tham gia việc bảo lãnh người tị nạn hoặc tiếp sức với các nhóm bảo lãnh của người Việt.


4.- Nhắc nhở người tị nạn nào có thân nhân, người quen ở Hoa Kỳ sẵn sàng lập thủ tục bảo lãnh thì hãy thông báo cho Mục Sư Jordan Smith ở Thái Lan.


Một số điều cẩn trọng


Chương trình bảo lãnh tư nhân mở ra triển vọng định cư cho thêm một số đồing bào tị nạn ở Thái Lan, nhưng thông tin về chương trình này vẫn còn nhiều khoản mù mờ và, quan trọng nhất, chương trình này hiện nay chưa ứng dụng cho đồng bào của chúng ta ở Thái Lan.


Theo thông báo chính thức của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, khoảng tháng 6 năm nay thì các nhóm bảo lãnh mới bắt đầu được chọn người tị nạn mình muốn giúp định cư. Tuy nhiên, đây chỉ là mốc điểm dự kiến. Còn thời điểm thực sự thì khó đoán trước. Chẳng hạn, ngày 4 tháng 2 năm 2021, tân Tổng Thống Joe Biden đã công bố chương trình bảo lãnh tư nhân, dự trù sẽ triển khai vào cuối năm 2021 nhưng mãi cho đến đầu năm nay mới được mở ra bước đầu.


Do đó, chúng tôi có những lời cảnh giác sau đây:


1.- Chúng tôi khuyến khích các nhóm bảo lãnh nhanh chóng hoàn tất thủ tục ghi danh với chính phủ Hoa Kỳ, đồng thời nhắc nhở mọi người là hiện nay chưa thể xúc tiến việc bảo lãnh cho đến khi có thông báo chính thức từ chính phủ Hoa Kỳ.


2.- Khi chúng tôi kết nối một hồ sơ tị nạn với một nhóm bảo lãnh, mục đích là để 2 bên quen biết và tìm hiểu nhau chứ không phải là nhóm ở Hoa Kỳ đã chính thức chọn bảo lãnh định cư hồ sơ ấy.


3.- Những hồ sơ tị nạn nào chưa được kết nối thì xin an tâm là quý vị không bỏ quên và tuyệt nhiên không phải điền đơn ghi danh hoặc cung cấp thông tin cho bất kỳ ai. BPSOS đã có sẵn hồ sơ của khoảng 85%-90% những người có quy chế tị nạn.


Trong bản cập nhật sau, chúng tôi sẽ nói về những điều kiện tối thiểu để người tị nạn được định cư theo chương trình bảo lãnh tư nhân của Hoa Kỳ.


Thông tin liên lạc:


Ở Hoa Kỳ: Ts. Phan Quang Trọng, email: trong.phan@gmail.com

Ở Thái Lan: Mục Sư Jordan Smith, email: Jordan.Smith@pspfoundation.org


Thông tin liên quan:


Cập nhật về nỗ lực định cư người tị nạn ở Thái Lan – ngày 17 tháng 2, 2023

https://machsongmedia.org/vietnam/bao-ve-nguoi-ti-nan/1904-cap-nhat-ve-no-luc-dinh-cu-nguoi-ti-nan-o-thai-lan-ngay-17-thang-2-2023.html


Cập Nhật Về Nỗ Lực Thúc Đẩy Định Cư Người Tị Nạn Ở Thái Lan – ngày 12 tháng 2, 2023

https://machsongmedia.org/vietnam/bao-ve-nguoi-ti-nan/1902-cap-nhat-ve-no-luc-thuc-day-dinh-cu-nguoi-ti-nan-o-thai-lan.html


Chó Tây, Chó Ta

 

Hình minh họa (Internet)

CHÓ TÂY, CHÓ TA
Lê Đức Luận

Những con vật được nuôi trong nhà, gọi chung là gia cầm thì con chó được loài người thuần hóa sớm nhất từ loài sói xám và được nhắc đến nhiều trong văn học từ cổ chí kim, từ đông sang tây với những từ ngữ ngọt ngào: trung thành, tình nghĩa, khôn ngoan, thân thiện... Nhưng không hiểu tại sao người Việt mình khi giận hờn nhau thường đem con chó ra chửi: “đồ chó,” “cái mặt chó, ” “cái đồ chó đẻ!”.

Lúc bực bội những chuyện ngoài đường, về nhà con chó chạy ra ngoắc đuôi mừng rỡ, ông chủ lại cho nó một đá cho hả giận… mặc dù nó chẳng có tội tình gì - nó cúp đuôi, tiu nghỉu chạy trốn - chẳng hiểu tại sao(?) Trong nhà vợ chồng cãi nhau, chó là con vật đầu tiên bị mang tai họa. Vì không biết làm sao cho bớt ấm ức, bèn đá con chó, chửi con mèo… Bởi thế, mới có thành ngữ “mắng chó chửi mèo” hay “chỉ chó mắng mèo” là vậy. Thật khốn khổ cho cuộc đời con chó!

Trời sinh ra con chó có được cái tính bẩm sinh: thính tai, thính mũi, khôn ngoan, thân thiện, gắn bó, thủy chung với chủ. Người ta nuôi chó coi như một bạn đồng hành giúp ích được nhiều việc như: giữ nhà, săn bắt, dẫn dắt người mù… ở Bắc Cực còn bắt chó kéo xe. Ngày nay, một số người nuôi con chó nhỏ để làm cảnh, coi như thú cưng trong nhà vì nó luôn luôn quấn quít, thân thiện, trung thành giúp họ bớt cô đơn và có được những giây phút mơn trớn, vuốt ve, dịu dàng làm bớt đi những căng thẳng.

Mỗi con chó sinh ra đều có một phần số: “chó tây” có đời sống khác với “chó ta” - “chó ta” được nuôi ở miền Bắc khác con “chó ta” nuôi ở miền Nam.

Đọc những truyện ngắn của nhà văn Nam Cao, mô tả “cậu Vàng” của Lão  Hạc, Cái Chết Của Con Mực… hay Kim Lân kể về Con Chó Xấu Xí, ta cảm thấy số phận con “chó ta” sao mà thê lương đến não lòng – dù hết lòng trung thành với chủ, cuối cùng vẫn bị bạc đãi - người ta bán đi hay giết thịt. Thật khốn nạn cho cuộc đời con “chó ta”.

Trong văn học cổ Việt Nam còn lưu lại bằng chữ Nôm câu chuyện “Lục Súc  Tranh Công” (1): trâu, chó, ngựa,dê, gà, và lợn - viết theo thể “nói lối”. Con chó  tranh công với trâu và kể lể với chủ: “Trời đã sinh các hữu kỳ tài/ Lớn việc nặng, bé thì việc nhẹ… Vốn như đây ốm yếu chân tay/ Cũng hết sức gia trung xem xét … Kẻ đầu kia, người việc nọ/ Đứa coi ngoài, có đứa giữ trong/ Đêm năm canh con mắt như chong/ Đứa đạo tặc, nép oai khủng động/ Ngày sáu khắc, lỗ tai bằng trống/Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh… Lại đến ngày kỵ lạp tiên sinh/ Cũng ra sức săn chồn, đuổi sóc/ Bao quản chui gai, lước góc/ Chi này múa mỏ, lòn hang/ Anh trâu sao chẳng biết thương/ Nỡ lại ra lời sanh nạnh… Ăn thì cơm thừa, canh cặn, môn sượng, khoai sùng/ Tới bữa ăn chẳng luận ít nhiều/ Có cũng rằng, không cũng chớ… Vốn như đây gia tài ủy ký/ Mà chủ không tốn kém đồng nào/ Nên không  muông coi trước, giữ sau/ Thì của ấy về tay kẻ trộm…”

Con “chó ta” bị hắt hủi, nó phải kể lể như trên. Con “chó tây” cũng đi vào văn học Âu - Mỹ từ xa xưa, nhưng lại được ca ngợi và tôn vinh qua câu chuyện rất cảm động và thâm thúy sau đây:

Năm 1870, Luật sư George Graham West (1830 – 1904) đã đọc một bài “bào chữa” chỉ có 375 chữ ca ngợi con chó trong vụ kiện của người thợ săn kiện người chăn cừu đã giết con chó của mình. Bài bào chữa có tên “A Tribute to The Dog” đã thuyết phục toàn thể Bồi Thẩm Đoàn và thân chủ ông đã thắng kiện. Sau đó, bài bào chữa này được lưu truyền trong văn học Mỹ và được tờ New York Times bình chọn là bài diễn văn hay nhất thế kỷ. Ngày nay, trước tòa án Warrensburg, bang Missouri người ta dựng tượng đài con chó Old Drum với bài “A Tribute to the Dog” để ghi nhớ sự kiện lịch sử này. George Graham West nổi tiếng trong lịch sử Mỹ nhờ bài diễn văn này.

Tượng chó kèm bài A Tribute to the Dog trước tòa án quận Johnson ở Warrensburg (Nguồn Wikipedia)

Đọc một đoạn trong bài diễn văn (đã dịch ra Việt ngữ) làm ta suy ngẫm và ngậm ngùi:

….” Trên thế gian vụ lợi ích kỷ này, con người chỉ có thể có được một người bạn vô tư không điều kiện, một người bạn không bao giờ rời bỏ ta, không bao giờ vô ơn bạc nghĩa, không bao giờ phản bội, đó là con chó của ta.

* Con chó của ta luôn ở bên cạnh ta, dù ta giàu sang hay ta nghèo khó, dù ta khỏe mạnh hay ta ốm đau bệnh tật. Nó ngủ dưới nền đất lạnh, bất chấp giá rét mùa đông hay bão tuyết, miễn sao được ở gần ta. Nó vẫn hôn vào bàn tay ta dù ta không còn  thức ăn gì cho nó. Nó liếm vào những vết thương và những chỗ ta đau đớn khi va chạm với sự tàn bạo của cuộc đời. Nó canh giấc ngủ cho ta khi ta là kẻ khốn cùng cũng giống như khi ta là một ông hoàng.

* Khi tất cả bạn bè đều rời xa ta, riêng con chó thì ở lại.

* Khi ta mất hết của cải, thân bại danh liệt, thì tình yêu thủy chung của con chó đối với ta vẫn ngời sáng như ánh mặt trời xuyên thấu chín tầng mây.

* Nếu chẳng may ta bị cuộc đời ruồng bỏ, rơi vào cảnh không bạn bè không nhà cửa, thì đối với con chó trung thành, không có một đặc ân nào cao cả hơn là được ở bên cạnh ta, để bảo vệ ta chống lại những hiểm nguy, chống lại kẻ thù.

* Và đến lúc cuộc đời ta kết thúc, thần chết rước ta đi và thân xác ta nằm dưới lòng đất lạnh, khi người thân bạn bè đưa tiễn đã quay về để tiếp tục bận rộn với cuộc sống của họ, thì con chó cao quý vẫn còn nằm bên nấm mồ ta, đầu gục xuống giữa hai chân, đôi mắt đau buồn nhưng vẫn mở to cảnh giác, trung thành và chân thực ngay cả khi ta đã chết.”

Đọc những truyện kể về con chó, tôi nhớ đến “con Đớm” nhà tôi.

Năm đó bà chị dâu của tôi có bầu trên năm tháng, anh tôi xin một con chó con của nhà ông Lý Bản về nuôi, gọi nó là “con cún”, trông nó mũm mĩm rất dễ thương, nhưng lại làm nhiệm vụ “dọn bãi” cho đứa con sơ sinh của anh chị - mỗi lần bà chị dâu gọi: “cún… cún… chậc…chậc…” Nó lăng xăng chạy đến ngoắc đuôi lia lịa “dọn bãi” một cách cần mẫn, tận tình – tôi thấy nó hèn hạ và dơ dáy! Cho nên mỗi lần nó đến gần, tôi cho nó một đá - đuổi đi… Nhiều lần như thế, nó biết phận, đứng xa xa, nhìn tôi với ánh mắt lấm lét, nhưng cái đuôi vẫn ve vẩy hững hờ. Hình như nó mong đợi tiếng tôi gọi nó. Nhưng chưa bao giờ! Rồi nó lặng lẽ bỏ đi…

Khi đứa con của bà chị dâu lên hai, con “cún” không còn làm nhiệm vụ “dọn bãi” nữa. Lúc này thân hình nó tròn trịa, cao to, hai tai vểnh lên, hai đớm trắng trên mi mắt rõ nét, trông rất ngộ. Anh tôi đặt tên cho nó “con Đớm” và bắt đầu huấn luyện cho nó săn chuột, canh giữ chuồng gà, không để chồn, cáo vào bắt gà ban đêm. Ban ngày, khi trải lúa ra sân phơi, “con Đớm” nằm đuổi bọn gà đến ăn lúa. Có mặt “con Đớm”, bọn gà không dám bén mảng. Khi nó lang thang đâu đó mà anh tôi gọi: “Đớm… ô… ô! Đớm… ô… là nó chạy đến ngoắt đuôi - chờ lịnh. Nó hiểu và làm được những việc anh tôi sai bảo.

Anh tôi thương và quý “con Đớm”, nhưng tôi vẫn còn mặc cảm với nó. Nhưng có một lần con Đớm làm tôi cảm động và thích thú. Chuyện thế này:

Thằng Thương ở trong xóm, nuôi một con chó Vện - con chó này nổi tiếng khôn ngoan và hung dữ - thấy ai lạ là nó nhe răng gầm gừ, như muốn xông đến cắn người ta, nhưng khi thằng Thương tỏ vẻ niềm nỡ với khách thì nó liền tỏ ra thân thiện, ngoắt đuôi, mừng! Thằng Thương hãnh diện về con Vện của mình, đi đâu cũng dẫn con Vện theo cùng. Một hôm tôi gặp thằng Thương ở đầu ngõ, con Vện vừa trông thấy tôi, nó gầm gừ … Con Đớm từ trong nhà chạy ra đứng cạnh tôi, sủa vang và nghênh con Vện. Thương là thằng ngổ ngáo, chẳng những nó không la con Vện mà còn “sịt… sịt…” chỉ tay cho con Vện xông vào con Đớm. Hai con chó cắn nhau dữ dội. Thằng Thương vỗ tay reo…

Nhưng sau một hồi cắn đấu kịch liệt, con Vện của thằng Thương cúp đuôi bỏ chạy. Thằng Thương tiu nghỉu bỏ đi. Con Đớm chạy lại bên tôi, tôi cúi xuống vuốt ve nó – lông nó ướt đẫm, trên mũi và chân trước bị cắn chảy máu . Tôi vào nhà giã củ nghệ, kêu nó lại, lấy nghệ đắp lên vết thương, nó ngoan ngoãn nằm yên. Từ đó tôi thương con Đớm - đi đâu tôi cũng cho nó đi theo. Và cũng từ đây con Đớm là bạn thân thiết nhất của tôi thời thơ ấu ở làng quê Vĩnh Phú.

Đến một ngày có lệnh diệt chó để ngừa bệnh “chó dại”. Hằng ngày có một toán đi diệt chó, họ rảo quanh làng rình rập, bắt chó… Họ mang theo gậy, búa, và dây thòng lọng. Anh tôi thương con Đớm, anh tỉ tê với nó thế nào mà nó hiểu - mỗi khi nghe tiếng người, nó chạy vào gầm giường trốn biệt. Nó cũng không theo tôi ra khỏi nhà. Nó thoát nạn một thời gian. Nhưng sau đó Ủy Ban Hành Chánh xã ra thông báo: “Nhà nào còn lén lút nuôi chó mà không khai báo, coi như có hành vi phản động.” Hồi đó, ở trong vùng Việt Minh kiểm soát, ai cũng sợ bị ghép vào thành phần phản động hay Việt gian – bị ghép vào hai thành phần này, sớm muộn gì cũng bị cho đi “mò tôm”(2). Bởi vậy, anh tôi đành chỉ chỗ con Đớm trốn cho toán diệt chó. Sáng hôm ấy anh tôi đem đến cho con Đớm đĩa cơm có chan nước thịt và mấy lát thịt heo. Anh tôi vuốt ve nó, nhìn nó ăn, anh tôi khóc! Rồi anh ra khỏi nhà trước khi toán diệt chó đến. Anh tôi không muốn thấy cảnh đau lòng…

Khi toán diệt chó đến, con Đớm chạy trốn dưới gẩm giường, họ xông ngay vào chỗ nó đang trốn. Nó hết đường tẩu thoát… Lúc ấy ở nhà chỉ có mình tôi, tôi nhìn họ hung bạo như quân cướp. Tôi sợ họ như con Đớm đang sợ - nó co dúm lại, run run, không kháng cự. Họ lấy cây gậy dài đè vào cổ, một tên khác đưa dây thòng lọng vào cổ, kéo nó ra… Hai chân trước con Đớm cố bám vào sàn nhà, miệng kêu ẳng ẳng, mắt nhìn tôi như cầu cứu… Tên bắt chó chẳng chút xót thương, hắn lôi xệch con Đớm ra cửa. Khi cái dây thòng lọng siết chặt cổ, lưỡi con Đớm thè ra, không còn kêu được nữa, nhưng mắt nó hướng về phía tôi, ướt đẫm… Nước mắt tôi cứ tuôn ra, tôi khóc nức nở…cho đến lúc bọn họ lôi con Đớm ra khỏi ngõ, tôi kêu lên Đớm ơi trong tiếng khóc nghẹn ngào.

Vào thời đó, ở làng tôi chưa biết ăn thịt chó. Họ giết con Đớm và đem chôn nó bằng cách nào, tôi không được chứng kiến, nhưng cách họ bắt con Đớm lôi đi quá tàn nhẫn. Hình ảnh đó ám ảnh tôi trong một thời gian dài. Sau này nghe anh tôi kể: - Họ ra lịnh diệt chó để ngừa bệnh dại chỉ là cái cớ - mục đích chính là để ban đêm cán bộ rình rập các nhà địa chủ, phú nông nghe ngóng tin tức, không bị lộ (lúc đó chính sách cải cách ruộng đất bắt đầu ló dạng ở Liên Khu 5).

Năm 1954, Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, Chính quyền Quốc Gia tiếp quản Liên Khu 5. Bấy giờ tôi đã qua thời thơ ấu – tôi rời làng quê ra tỉnh theo việc học hành. Chuyện tiếc thương con Đớm rồi cũng phôi pha theo năm tháng.

Tiếp theo, đời tôi nổi trôi theo vận nước với bao thăng trầm, khổ nhục, vì cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn. Cho đến một ngày, thời cuộc đẩy đưa, tôi được định cư trên nước Mỹ.

Từ đây, cuộc đời đưa tôi đi vào ngã rẽ mới. Những ngày đầu tiên sống trên đất Mỹ, với tôi không biết bao nhiêu điều lạ lẫm - phải tìm hiểu, học hỏi mới quen dần. Chuyện “con chó ở xứ Mỹ” là một trong những câu chuyện được nghe người ta ví von nhiều nhất: “ Xã hội Mỹ xếp hạng đàn bà số một, thứ hai là chó mèo, đàn ông đứng hàng thứ ba.” Chớ có quen tật bạo hành phụ nữ; ngược đãi, hành hạ chó mèo. Loạng quạng phạm vào những điều căn bản đó, cảnh sát còng tay đưa ngay về bót - phải trái: hạ hồi phân giải. Học được điều đó, nên biết thân phận của mình, tôi không dám to tiếng với vợ; tránh xa chó mèo để khỏi mang họa vào thân.

Nhưng càng sống lâu trên đất Mỹ, tôi thấy thuơng cho thân phận cho con “chó ta”. Vì thấy con chó Mỹ sướng quá! Con “chó ta” thì: “Ăn cơm thừa, canh cặn, môn sượng, khoai sùng…Tới bữa ăn chẳng luận ít nhiều/ Có cũng rằng, không cũng chớ…” Còn con chó Mỹ được luật pháp bảo vệ. Theo “Texas Penal Code # 420”: Người nuôi súc vật trong nhà phải có bổn phận cho ăn, cho uống, cho chỗ ở. Thiếu một trong các điều nêu trên và cố ý hành hạ, bỏ bê, giết hại chó mèo sẽ bị bỏ tù một năm và số tiền phạt có thể lên tới bốn chục ngàn dollar.

Thỉnh thoảng báo chí Mỹ đưa tin về những vụ như ông Dennis, ở Tennessee bị bỏ tù 9 tháng vì bỏ đói, bỏ lạnh và xích con chó ngoài vườn cho đến chết. Những tin như thế có làm tôi xúc động, nhưng rồi cũng chỉ thoáng qua vì lúc đó còn nhiều công việc khác phải lo toan, chuyện chó mèo coi như phù phiếm.

Đến một hôm, tôi nghe nhiều người “kháo” nhau về chuyện chó - đây là chuyện “chó Mỹ”. Nguồn tin loan truyền rằng: “Một người Việt Nam tỵ nạn, sang Mỹ hơn một năm, chỉ làm công việc dẫn chó đi chơi, đi ị, hốt cứt chó…mà kiếm được tiền mua nhà.” Ở cái xứ Hiệp Chúng Quốc này, có những chuyện mới nghe rất khó tin, nhưng rồi có thật, nên tôi để ý theo dõi và tìm hiểu… Thì ra chẳng ai xa lạ - thằng Tuất bạn cùng quê với tôi, qua Mỹ theo diện HO3 đã tạo nên câu chuyện này.

Hôm gặp nhau ở Cali, nó mời tôi về nhà chơi, đãi đằng cơm nước chu đáo. Tôi chăm chú nhìn căn nhà, tuy không lớn lắm, nhưng có sân trước, vườn sau – cây trái sum suê, mát mẻ, êm đềm. Tôi biết nó có được cơ ngơi như thế này là nhờ công việc “dẫn chó đi chơi, đi ị...” đúng như người ta đã “kháo”. Nhưng chẳng lẽ hỏi hết ngọn ngành, tôi tế nhị, nói:

- Mày giỏi thật!
- Giỏi giang gì - trăm chuyện cũng nhờ con chó. Nó trả lời.
- Thì tao cũng nghe thiên hạ nói thế, nhưng chưa biết công việc cụ thể thế nào? Mày có thể kể cho nghe, được không?

Nó thành thật kể hết đầu đuôi: 

- “Khi mới sang đây, gia đình tao được hưởng trợ cấp xã hội, lại được cho thêm tiền Food Stamps - đủ sống. Hai đứa con đi học được xe đưa đón, ăn trưa ở trường miễn phí, tao đi học ESL. Vợ tao muốn có thêm chút tiền mua sắm này nọ, nên xin vào làm nhà hàng, mỗi tháng kiếm được năm, sáu trăm. Với tao như thế là Thiên Đàng. Nhớ lại những ngày cơ cực trước đây, tao thầm cảm ơn nước Mỹ đã cưu mang. Nhưng phải tính chuyện tương lai, khi hết được hưởng trợ cấp xã hội, phải lo tìm việc, nên hằng ngày sau giờ học ESL, tao đi tìm tin tức đó đây, thì vận may đưa đến: chiều hôm ấy trên con đường vắng, tao gặp một bà già Mỹ, một tay chống gậy, một tay cầm dây dắt chó. Con chó của bà to và khoẻ, nó cứ lăng quăng chạy nhảy, cái dây xích đã kéo ra hết cỡ, nó vẫn muốn chạy xa hơn, kéo bà già xiêu xiêu muốn ngã và trông bà có vẻ mệt lắm, tao bèn xổ tiếng Anh mới học được: - May I help you? Bà già vừa thở vừa đưa đầu dây xích cho tao.

Lúc này tao muốn kêu con chó trở lại. Tiếng Việt mình thì gọi “ô... ô…” hay “chấc… chấc”, còn tiếng Mỹ không biết nói làm sao, tao bèn dùng thứ ngôn ngữ “ba rọi”- tao lấy tay ngoắc ngoắc, miệng kêu chấc… chấc… rồi nói: - come here. Ấy vậy mà con chó hiểu, nó chạy đến bên tao, ngoắc đuôi, mừng, rồi nhảy cửng lên người tao. Tao bế nó vuốt ve, nó nằm yên. Bà già Mỹ nói: “Hai ngày mới cho nó ra ngoài chơi một lần, nên mỗi lần được ra khỏi chuồng nó chạy nhảy lung tung - tên nó là Johnny - cứ kêu tên là nó chạy về.”

Thằng Tuất nhấp ngụm nước, tiếp tục kể:

- Bà già gọi: “Johnny, go home”. Con chó nhảy ra khỏi tay tao, lon ton chạy trước.

Bà già quay sang hỏi tao: “Nhà anh ở đâu?” Tao cho bà ta địa chỉ. Mặt bà ta có vẻ vui, bả nói: “Vậy là rất gần nhà tôi”. Rồi bả hỏi tao đủ thứ chuyện: về gia cảnh, về lý do được định cư ở Hoa Kỳ và cuộc sống hiện tại ra sao? Tao kể hết sự thật. Bà ta tỏ ra xúc động. Bà nói rất nhiều, nhưng tao chỉ hiểu đại ý. Khi về trước cổng nhà, bà mở ví đưa tao hai chục đô, tao không nhận, bà nài nỉ, nhưng tao nhất định không nhận. Tao cúi xuống, đưa bàn tay ra, con Johnny đưa chân trước lên bàn tay tao như kiểu bắt tay từ giã. Tao đứng lên, chào bà với câu vừa học được – “Bye bye, see you tomorrow.” Bà ta nở nụ cười thân thiện, rồi bảo: - “Nếu anh không bận việc, mỗi ngày đến đây dẫn Johnny đi chơi vài giờ, tôi sẽ trả thù lao 20 dollar.” Tao OK liền. Ngày hôm sau tao đến, bà vui mừng, chỉ tao cách dẫn chó đi chơi ở nơi nào và chỉ cách hốt cứt chó khi con Johnny làm xấu. Thế là từ đó tao có cái nghề mới “dẫn chó đi chơi… đi ỉa…” kiếm mỗi tháng gần năm trăm đô.

Thằng Tuất nheo mắt, cười cười, hỏi tôi:

- Ở Mỹ có nhiều chuyện “khó tin mà có thật”, đôi khi “làm chơi mà ăn thiệt”. Mày có thấy như vậy không?
- Chỉ có mày may mắn, chứ tao cày bở hơi tai mới kiếm được đồng dollar.

Nó kể tiếp: 

- Một hôm dẫn chó đi chơi về, tao thấy vườn cỏ nhà bà cao, tao ngõ ý cắt giùm cho bả. Bà ta bảo: “Trước đây có thằng Xì, cứ hai tuần đến cắt cỏ một lần, mỗi lần nó lấy $30,00, nhưng cả tháng nay không thấy nó trở lại, có lẽ nó về xứ.

Bây giờ anh muốn giúp tôi thì lấy máy cắt cỏ trong kho ra cắt, tôi sẽ trả tiền công như thằng Xì. Tao Ok liền! Tao cắt cỏ xong còn dọn dẹp, tỉa cây gọn gàng, sạch sẽ.

Tao làm việc cần mẫn, bà ta thích lắm, khi ra về bả đem cho tao lon coca với 40 dollar, nhưng tao chỉ lấy $25,00. Tuần sau, bả giới thiệu cho tao cắt cỏ hai nhà bên cạnh, cứ thế tiến lên… thêm mấy nhà. Thế là bây giờ tao có hai nghề: “cắt cỏ và dẫn chó đi chơi”, mỗi tháng kiếm trên ngàn đô. Tao dành dụm gần một năm, có được số tiền kha khá, gặp lúc nhà hạ giá, điều kiện dễ dàng, chỉ cần down 10% là có thể mua được nhà. Thế là tao liều mua căn nhà này với giá dưới trăm ngàn.

Ngồi nghe nó kể mà thấy thèm, lúc đó tôi tôi ở Tiểu bang Maryland, xin được việc làm trong tiệm 7- Eleven, lương $6.00 một giờ, chuyện mua nhà chỉ là giấc mơ - chắc phải chờ đến kiếp sau. Nhưng trong lòng vẫn có cái ước mơ và hy vọng - biết đâu cũng có được cái may mắn như nó, nên tôi hỏi:

- Hai cái việc này có dễ tìm không?
- Tìm việc cắt cỏ không khó lắm, nhưng cái Job “dẫn chó đi chơi…” phải tùy cái duyên, cái nghiệp. Nó trả lời như thế, rồi kể tiếp:

- Mấy ngày đầu tao dẫn chó đi chơi, dân ta nhìn tao với con mắt thiếu thiện cảm. Họ bảo tao “học làm sang”. Nhưng khi biết tao “dẫn chó thuê”, họ thông cảm. Nhưng khổ nỗi, con Johnny, thấy người Việt là nó sủa vang trời. Tao chửi thầm trong bụng: “bố khỉ, chó mà cũng kỳ thị chủng tộc…” Nhưng không phải thế, một vài người nó lại tỏ ra thân thiện, như hôm gặp thằng Hóa, một phật tử thuần thành, nó ngoắc đuôi, mừng! Cũng hôm ấy, đi một đoạn đường gặp thằng Phong, dân Bắc kỳ, mới đi lễ nhà thờ ra, con Johnny lại sủa vang, tao lại chửi thầm: “con chó này kỳ thị tôn giáo” Nhưng cũng không phải thế. Có người nó thân thịện, có người nó sủa vang. Cuối cùng tao khám phá một điều kỳ diệu nơi con chó: hễ người nào không ăn thịt chó thì con Johnny tỏ ra thân thiện; ngược lại những người đã ăn thịt chó thì con Johnny tỏ ra căm thù, tránh né và sủa không ngừng.

Về lại Maryland, tôi cố lân la với mấy ông bà già dẫn chó đi chơi, may ra tìm  được cái Job “thơm” như thằng Tuất, nhưng khi tôi đến gần, mấy con chó nhảy dựng lên, sủa vang trời. Nhớ lại chuyện thằng Tuất kể: “con chó căm thù những nguời đã ăn thịt đồng loại của nó.” Thế là tôi không còn hy vọng gì với cái nghề “dẫn chó đi chơi…” Vì trước đây, đã mấy lần theo bạn bè xuống Ngã Ba Ông Tạ nhậu thịt chó. Bấy giờ tôi nghiệm ra cái nhân duyên và nghiệp quả trong kiếp nhân sinh. Tôi an phận với công việc hiện tại của mình.

Rồi ngày tháng trôi qua, tôi đến tuổi về hưu, các bạn già đồng hương rủ nhau họp mặt ở nhà thằng Tuất. Bây giờ thằng Tuất giàu sụ, mua nhà mới, rộng rãi thênh thang. Bạn bè gặp nhau, mừng vui kể lại những thăng trầm trong cuộc sống và rồi “chuyện chó” được nhắc đến. Một ông bạn kể về con chó của đứa cháu ngoại. Ông bảo: “con chó Mỹ, nó sung sướng đến độ tôi phải ganh. Này nhé: nó được đưa đi tỉa lông, cắt móng, khám bịnh định kỷ; ăn toàn đồ organic, ngủ thì chiếu hoa nệm gấm… Khi con cháu đi du lịch xa gởi chó vào khách sạn chó (animal shelter), bịnh thì vào nhà thương chó (Animal Hospital), có bác sĩ thú y chăm sóc. Tính ra tiền chi phí nuôi con chó còn nhiều hơn tiền già của tôi” Rồi ông ta kết luận: “Sau khi chết, nếu có sự đầu thai, tôi sẽ xin đầu thai làm con chó.”

Một ông già ngồi cạnh, cười khẩy và nhắc nhở:

- Ông cẩn thận khi xin đầu thai - phải xin ghi vào sổ là “chó tây” ở trên nước Mỹ mới được - Chứ để lọt vào danh sách “chó ta” mà ở Việt Nam thì bỏ mẹ cuộc đời!

LÊ ĐỨC LUẬN (tháng 2-2023)

(1) Khuyết danh)
(2) Bỏ vào bao bố rồi nhận chìm xuống sông, rạch.


Ta Tự Hỏi...



 

Nàng Xuân

 



Tâm Khúc Đầu Năm

 



Xuân Tha Thiết