ẢNH HƯỞNG ĐẠO PHẬT TRONG Đ.T.T.T.
Thầy Dương Anh Sơn
PHẦN HAI
VỊ TRÍ TƯ TƯỞNG ĐẠO PHẬT TRONG ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH
CHƯƠNG II
SỰ TƯƠNG HỢP GIỮA TƯ TƯỞNG ĐẠO LÃO VÀ TƯ TƯỞNG ĐẠO PHẬT TRONG ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH
Mục 5:
KHÚC ĐÂU ĐẦM ẤM DƯƠNG HÒA
Trong một đoạn quan yếu khác của Đoạn Trường Tân Thanh, chúng ta cũng lại thấy tư tưởng của Đạo gia và đạo Phật mà Tố Như tiên sinh thâm ngộ được dung hợp với nhau khá chặt chẽ. Giữa những bài thơ Đường phong phú và súc tích, tiên sinh chỉ lựa được một bài “Cẩm sắt” của Lý Thương Ẩn đời Đường bên Trung Hoa chất chứa nhiều ý nghĩa để đem vào Đ.T.T.T làm nòng cốt đoạn tả Kiều đánh đàn cho Kim Trọng nghe trước khi “cuốn dây từ đó, về sau cũng chừa”(c.3214). Và với bài thơ này, tiên sinh lại chỉ lựa có 4 câu (thực và luận) để đưa vào mà thôi. Bốn câu thơ đó là những câu:
Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp 莊生曉夢迷胡蝶
Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên 望帝春心託杜鵑
Thương hải nguyệt minh, châu hữu lệ 滄海月明珠有淚
Lam điền nhật noãn, ngọc sinh yên 藍田日暖玉生煙
(Lý Thương Ẩn - Cẩm sắt) (李 商 隱 – 錦 瑟)
Tuy nhiên, ý nghĩa của bốn câu thơ trên khi đem vào Đoạn Trường Tân Thanh đã khoác một màu sắc khác hơn với ý nghĩa của tiếng đàn “Cẩm sắt” mà Lý Thương Ẩn sáng tác. Bài thơ “Cẩm sắt” được Tố Như đưa vào nhằm diễn tả lại cuộc đời của Thúy Kiều, kể từ lúc gặp gỡ rồi chia phôi cho đến khi tái hồi lại với Kim Trọng. Giáo sư Bửu Cầm và Tạ Quang Phát đã nhận xét: “Trong bài Cẩm sắt, câu ba tả tiếng đàn mơ màng, câu tư tả tiếng đàn ảo não, câu năm tả tiếng đàn trong trẻo, câu sáu tả tiếng đàn ấm áp, đều rất đúng với cuộc đời của Thúy Kiều theo từng giai đoạn: cũng mơ màng, cũng ảo não, cũng trong trẻo và cũng ấm áp, nồng nàn”. Đồng thời, hai vị này cũng cho đây là dụng ý khéo léo của Tố Như thi sĩ khi dùng tiếng đàn để phác họa một cách tổng quan cuộc đời Thúy Kiều: “Qua một thời gian trọn hai thế kỷ, cái dụng ý khéo léo của Cụ Nguyễn Du mới được chúng ta ngày hôm nay thấu hiểu, hay nói một cách khác, nhà thơ Tố Như không thiếu người tri âm tri kỷ. Chúng tôi nói nhà thơ Tố Như không thiếu người tri âm tri kỷ mà không nói đến Thanh Tâm Tài Tử, nhà văn Trung Quốc đã viết ra Kim Vân Kiều Truyện, vì dụng ý phiên bốn câu trong bài Cẩm Sắt là riêng của Nguyễn Du. Lam bản Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Tử ở đoạn đánh đàn này không có nói gì đến bài Cẩm Sắt cả”. [1]
Trước lập luận của hai vị này, chúng ta dễ dàng đồng ý là việc đưa ý tưởng của bài thơ "Cẩm sắt" vào Đoạn Trường Tân Thanh là điều mà bản gốc (lam bản) của Truyện Kiều do Thanh Tâm Tài Tử sáng tác đã không nói đến. Song nếu xét kỹ, chúng ta sẽ thấy ý nghĩa của bài "Cẩm sắt" không xa rời với đoạn văn của bản gốc bao nhiêu: “Lúc bắt đầu tiếng đàn ào ạt rồi chuyển sang một điệu thình lình nghe lai láng, dịu hòa như xuân ấm, thơm nồng như hoa nở, trong trẻo như trăng sáng, đẹp đẽ như én múa, một lần thoáng qua thì lại thông suốt, một lần ngẫm đến thì lòng say sưa, một lần tưởng lại thì hồn tiêu tán, một lần tưởng lại thì tinh thần sảng khoái thênh thang”[2]. Và với ý nghĩa như thế thì quả thật bài “Cẩm sắt” của Lý Thương Ẩn rất tương hợp với chính bản gốc của Truyện Kiều là Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân nhằm mô tả cuộc đời của Thúy Kiều.
Mặt khác, theo thiển ý, cái dụng ý khéo léo của Nguyễn Du không nằm trên chiều hướng đó. Nếu xét kỹ càng những câu thơ của Tố Như chúng ta sẽ nhận chân rõ hơn điều này:
"Khúc đâu đầm ấm dương hòa, (c. 3199)
Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh.
Khúc đâu êm ái xuân tình,
Ấy hồn Thục Đế hay mình đỗ quyên.
Trong sao châu nhỏ duềnh quyên,
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông.
Lọt tai nghe suốt năm cung,
Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao".
Những chữ “đầm ấm” ,“dương hòa”, “xuân tình”, "trong", "ấm" “lọt tai” và “xôn xao” không thể nào biểu tượng được giai đoạn nói lên những tiếng nấc nghẹn ngào của Thúy Kiều... sống trong cảnh phong trần vùi hoa dập liễu [3] như hai ông Bửu Cầm và Tạ Quang Phát nhận xét. Cái khéo léo hoặc dụng ý sâu xa của Tố Như ở đây nhắm đến việc mô tả trạng thái quân bình tâm thức của Kiều đã đạt được sau bao lần “thân tàn gợi đục khơi trong” mà thôi.
Thực vậy, ngoài những chữ nêu trên, các chữ “hồ điệp”, “Trang sinh”, “Thục Đế” và “đỗ quyên” được sắp xếp tương ứng từng đôi một để diễn tả một bên cảnh giới của Huyễn và một bên là cảnh giới của Thực, mà cả Đạo gia lẫn Thiền gia đều hướng đến. Huyễn hay Vô, Thực hay Hữu đều nương nhau mà xuất hiện, nẩy sinh theo đúng với tính cách nhị nguyên như đã được trình bày trong những phần trên. Đạo Đức Kinh của Lão Tử cũng đã thường xuyên nhắc nhở:
“Hữu vô tương sanh” (有 無 相 生) [4]
“Hồ điệp hay là Trang sinh”, “hồn Thục Đế hay mình đỗ quyên”, “Huyễn” hoặc “Thực”, “Không” hay “Có” đều từ một thực tại mà ra cả. Thực tại đó chính là trạng thái “dương hòa”, “êm ấm xuân tình”, “trong”, “đầm ấm”, “xôn xao” biểu tượng của một Thúy Kiều với một tâm thức đã đạt đến chỗ an bình, nghĩa là thông suốt được ý nghĩ cuộc đời, như lời Kim Trọng phát biểu là do “Tẻ vui bởi tại lòng này" (c.3209) mà ra! Đó chính là cái Tâm, cái Thiện căn (c.3251, 3252) của mỗi người cần phải đạt tới. Tư tưởng Thiền gia cũng đứng trên quan điểm “Hữu vô tương sanh” (“hay là”, “hay mình” c.3200 và c.3202 /Đ.T.T.T) của Lão Tử khi tương tự như Bồ Đề Đạt Ma đã cho rằng: “nói có” là do ở “ không”, nói “không” là do ở “có”. Đó mới là thấy chân thực. Phàm thấy thực thì không gì là chẳng thấy, mà cũng không gì mà không chẳng thấy, thấy khắp mười phương mà chưa từng có thấy... Tâm và cảnh đối nhau, cái thấy phát sanh từ cái thế đối đãi ấy. Nếu trong chẳng khởi tâm thì ngoài chẳng sanh cảnh. Cho nên tâm và cảnh có lắng hết cả hai thì mới gọi là chân kiến.[5]
Nói khác đi, tinh thần Đạo gia và Thiền gia đã soi sáng phần nào, cũng như ít nhiều có ảnh hưởng trong tư tưởng của Nguyễn Du tiên sinh, mà đặc biệt nhất là những câu thơ trên. Trong Đoạn Trường Tân Thanh, tinh thần ấy rất phù hợp với quan niệm về Đạo của Lão Tử hoặc Bát Nhã Ba La Mật của nhà Phật. Với Lão gia, “Đạo khả đạo phi thường đạo” (ĐĐK, Chương I) nhằm nói đến một thực tại “bất khả tư nghì”. Với nhà Phật “Bát nhã ba la mật tức không phải Bát nhã ba la mật, thế mới gọi là Bát nhã ba la mật”! [6]
Riêng với Tố Như, xuyên qua ý nghĩa này, chúng ta có thể hiểu theo cách suy diễn: “Trang sinh không phải là Trang sinh mới thật Trang sinh”, “thực tế không phải là thực tế mới chính là thực tế”. Nhưng Trang sinh tỉnh giấc không biết mình là bướm hay bướm là Trang sinh cũng như “hồn Thục Đế” và “chim đỗ quyên” là hai thực tại, thực tại nào là “hồn Thục Đế” thực tại nào là “mình đỗ quyên”. Cho nên, chúng ta cũng có thể suy diễn tiếp theo : Hồ điệp chính là Trang sinh, Thục đế chính là mình đỗ quyên. Cả hai không còn tách biệt, chẳng còn phân biệt nhau nữa, vì cả hai đều nói đến một thực tại duy nhất là “tẻ vui tại lòng này”, tức là cái Tâm chứng đắc của Kiều. Cái “thiên địa” hay “vạn vật” mà Lão Tử đề cập ở chương đầu tiên Đạo Đức Kinh rốt cùng cũng chỉ là một, do một “tương sanh” ra mà thôi.
Thành thử những ngôn từ được Nguyễn Du tiên sinh sử dụng có tác dụng diễn tả trạng thái “bình thường” an vui mà Kiều đã thức ngộ được sau bao nhiêu năm luân lạc. Trạng thái “dương hòa”, “đầm ấm”, “trong”, “ấm” v.v... mà Thúy Kiều đạt được chính là trạng thái mà Thiền sư gọi là “an vui tự tại” hay “thảnh thơi”, nghĩa là biểu tượng của một tâm thức quân bình, điều hòa. Nếu xét kỹ hơn, chúng ta thấy dụng ý của Tố Như khi để Kiều giải bày trạng thái chứng nghiệm của mình bằng tiếng đàn thì quả thật rất sâu xa. Ở giữa những tiếng đàn êm ái đó, nàng Kiều trong tâm thức yên bình đã im tiếng để mặc nhiên, để cho tiếng đàn tự bày lộ. “Xưa sao sầu thảm giờ sao vui vầy?”(c.3208). Câu hỏi đó Kiều vẫn không trả lời thẳng cho Kim Trọng . Kim Trọng là chứng nhân của sự thay đổi lớn lao tâm linh của nàng Kiều khi nhận ra tiếng đàn “trong sao châu nhỏ duềnh quyên” và “ấm sao hạt lệ Lam Điền mới đông” đó . Hoặc giả nàng đã trả lời, nhưng lại trả lời gián tiếp, nàng không nói gì về sự thay đổi của mình cả. Song câu trả lời của nàng lại cũng cho thấy nàng đã thành tựu lẽ đạo, một lẽ đạo trong nghĩa "bình thường tâm" là đạo!:
“Cũng vì một chút nghề chơi (c. 3211)
Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu”.
“Chút nghề chơi” là những mê lầm mà Kiều chính là biểu tượng cho thân phận con người bị đặt vào màn lưới của mệnh, của nghiệp. Chỉ đến bây giờ khi ý thức rõ rệt được “đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu” (c.3212), nàng mới được thảnh thơi tự tại. Đây cũng chính là điều mà Lão Tử đã mệnh danh là Tri Hòa. Biết được sự hòa điệu quân bình cũng chính là biết được lẽ Thường của Đạo, và kẻ nào biết được cái Thường ấy chính là sẽ sáng suốt đi đến sự giác ngộ:
“Tri hòa viết thường, tri thường viết minh”
知 和 曰 常,知 常 曰 明 [7]
Và Thúy Kiều ,từ giây phút đó, có quyền nói về nỗi đoạn trường đã trải qua. Từ đây, nàng đã đạt đến đức Minh của Đạo gia hay cái Bình Thường Tâm của Thiền gia:
“Cuốn dây từ đấy về sau xin chừa” (c. 3214)
Nói khác đi, “xin chừa” hoặc “cuốn dây” vì nàng đã lắng đọng và rửa sạch những mê lầm để bước vào cõi ngộ, để giác được cái thanh tịnh hay đức Tĩnh mà bấy lâu “vì chút nghề chơi”, vì chút mê muội nó đã trở thành những bụi bặm che phủ tâm thức trong sáng của nàng đến nỗi nàng phải xác nhận: “Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu”. Đạt đến mức độ ấy, thấy rõ được cả một bước đường điêu linh từng dày vò mình, nàng mới an hưởng được trong nguồn hạnh phúc thật bình thường cùng người yêu dấu cũ.
- Phải chăng, đây chính là cùng đích của thân phận làm người, tức đạt đến điều mà Lão Tử gọi là: “Giải kỳ phân, hòa kỳ quang, đồng kỳ trần” 解 其 分,和 其 光,同 其 塵 ? [8] (hóa giải mọi phân chia, điều hòa ánh sáng, tuy cùng ở nơi trần cấu)
- Phải chăng, tiếng đàn của nàng Kiều đã biểu lộ được con đường Trung Đạo (中道) của Phật gia hoặc Trung Hòa (中和) của Nho gia? Và phải chăng đó chính là điều mà Tố Như khát khao?:
“Chẳng tu mà cũng như tu mới là!” (c. 3108)
Dương Anh Sơn
[1] Bửu Cầm và Tạ Quang Phát, Bài Cẩm Sắt của Lý Thương Ẩn và Cuộc đời Thúy Kiều, Sài Gòn, tạp chí Văn số 44, ngày 15-10-1965, trang 12, 13, 14.
[2] Thanh Tâm Tài Tử, Kim Vân Kiều Truyện ,Tô Nam Nguyễn Đình Diệm dịch (Q.1 và Q.2), Sài Gòn, Phủ Quốc Vụ Khanh Văn Hóa, 1971.
[3] Bửu Cầm và Tạ Quang Phát, Sđd, tr 13 .
[4] Lão Tử, Sđd, chương 2.
[5] Bồ Đề Đạt Ma, S.đ.d, tr. 88 và 89.
[6] Kim Cương và Tâm Kinh, dịch giả Thích Thiện Hoa, Sài Gòn, Hương Đạo XB, 1976, tr. 84.
[7] Lão Tử, Sđd, chương 55 .
[8] Lão Tử, S.đ.d, chương 4.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét