Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2022

Thơ Lý Bạch - Bài 54, 55 và 56

 


THƠ LÝ BẠCH - BÀI 54, 55, 56
Thầy Dương Anh Sơn 

BÀI 54
 
CỔ PHONG KỲ NHỊ THẬP TAM                           古風其二十三 
Thu lộ bạch như ngọc,                                                  秋露白如玉, 
Đoàn đoàn há đình lục,                                                 團團下庭綠。
Ngã hành hốt kiến chi,                                                 我行忽見之,  
Hàn tảo bi tuế xúc.                                                       寒早悲歲促。
Nhân sinh điểu quá mục,                                             人生鳥過目,  
Hồ nãi tự kết thúc.                                                        胡乃自結束。
Cảnh nhất hà ngu,                                                        景公一何愚, 
Ngưu sơn lệ tương tục.                                                牛山淚相續。
Vật khổ bất tri túc ,                                                       物苦不知足,    
Đắc Lũng hựu vọng Thục.                                            得隴又望蜀。
Nhân tâm nhược ba lan,                                               人心若波瀾,
Thế lộ hữu khuất khúc.                                                世路有屈曲。
Tam vạn lục thiên nhật,                                                三萬六千日, 
Dạ dạ đương bỉnh chúc.                                               夜夜當秉燭。
Lý Bạch                                                                      李白    

Dịch nghĩa :

Cổ phong bài thứ hai mươi ba

Những hạt móc sương mùa thu trong sáng như viên ngọc tròn trịa (rơi) xuống sân nhà màu xanh biếc. Ta đang đi chợt thấy cảnh đó. Buổi sáng sớm trời lạnh ,lòng buồn sầu vì năm tháng vội vàng qua nhanh (c.1-4). Đời người như chim bay qua tầm mắt sao lại tự trói buộc mình!? Cảnh Công sao lại là một kẻ ngu đần? Nơi núi Ngưu, nước mắt Cảnh Công tuôn tiếp theo nhau (c.5-8). Muôn loài khổ đau vì không biết (thế nào) đầy đủ! Được ở vùng đất Lũng lại trông ngóng đất Thục! (c.8-12). Lòng người như những đợt sóng lớn cứ lên lên , xuống xuống đổi thay luôn. Đường đời có nhiều khúc quanh co trong ba mươi vạn sáu ngàn ngày. Đêm đêm hãy nên cầm đuốc mà đi! (c.13-14).

Tạm chuyển lục bát:   

CỔ PHONG BÀI THỨ HAI MƯƠI BA

Móc thu như ngọc trong ngần,
Màu xanh biên biếc rơi sân tròn bày.   
Ta đi chợt thấy cảnh đây,    
Buồn trời sớm lạnh tháng ngày vội trôi.
Chim bay qua mắt: đời người,
Còn ta cứ trói buộc đời vậy chăng?
Cảnh Công sao lại ngu đần?  
Núi Ngưu nước mắt tuôn tràn mãi thôi! 
Khổ không biết đủ loài người
Được vùng đất Lũng, ngóng vời Thục chi!      
Lòng người sóng lớn nhiêu khê,
Đường đời khúc khuỷu nhiều bề lắm thay!
Ba mươi vạn sáu nghìn ngày,
Hãy nên cầm đuốc mãi hoài hằng đêm!    

Chú thích:

- bạch白: màu trắng, trắng xóa, trong trẻo, trong vắt, trong trắng...
- đoàn đoàn 團團: tròn trịa, tròn vo, nắm cuộn lại, tập hợp lại, hình tròn...

- chi 之: đặt cuối câu có nghĩa: cái này, cái đó, cái kia, đây, đấy, đã rồi. thuộc về, ấy, đâu đấy....

- xúc 促: vội vàng, gấp gáp, cần kíp, mau chóng ....
- điểu quá mục 鳥過目: chim bay qua tầm mắt, thoáng chốc, nhanh chóng...
- tự kết thúc 自結束: tự mình ràng buộc chính mình, tự mình thắt chặt lấy mình, tự làm cho xong việc... - Cảnh Công: tức vua Tề Cảnh Công 景公 (547-490 TCN), tên là Khương Chữ Cữu là vua thứ 26 của nước Tề, chư hầu nhà Chu, Trung Hoa.Một hôm Cảnh Công đi chơi Ngưu Sơn(nay là huyện Lâm Chí, Sơn Đông,T.H.) đang ngắm cảnh núi non bỗng khóc như mưa tuôn mà than rằng: giang sơn đẹp đẽ như thế này mà ta rồi phải bỏ đi không sống mãi để hưởng! Hai đại thần Lữ Sử Không và Lương Khưu Cứ thấy vua khóc cũng khóc theo nói là chịu ơn vua có cơm ăn, áo mặc ,ngựa xe để cưỡi chẳng muốn chết huống gì là vua trên ngôi cao được hưởng bao nhiêu thứ .Chỉ có đại thần sáng suốt,thẳng tính ,giỏi chính trị là Án Tử đứng bên cạnh nghe vậy mà cười. Vua Cảnh Công hỏi lý do. Án Tử mới nói rằng : nếu các vua giỏi trước đây giữ mãi được đất nước này như Thái Công, Hoàn Công, Linh Công, Trang Công có đâu cho vua hưởng như bây giờ hay là phải đội nón ra đồng làm ruộng rồi! Tôi thấy vua bất nhân, bầy tôi siểm nịnh nên cười .Đó là cái ngu của Tề Cảnh Công theo cách gọi của Lý Bạch và nhiều người đời sau nhận xét về việc làm của Tề Cảnh Công (bất nhân: không biết qui luật và đạo lý làm người...)

- vật 物: muôn loài, muôn vật, sự vật, cũng chỉ con người trong muôn loài đó.
- Lũng 隴: cách gọi vùng đất Cam Túc xưa của người Trung Hoa
- Thục 蜀: vùng đất xưa, nay nằm ở tỉnh Tứ Xuyên phía tây nam Trung Hoa, gần cao nguyên Tây Tạng.
- ba lan 波瀾: sóng vỗ mạnh mẽ khi lên khi xuống. Chỉ sự thay đổi ,thăng trầm của cuộc đời.
- khuất khúc 屈曲: quanh co khúc khuỷu, cong queo, khó hiểu , không rõ ràng, không thẳng thắng...
- tam vạn lục thiên nhật 三萬六千日: ba mươi vạn sáu nghìn ngày (36000: 360 = một trăm năm)


Bài 55


CỔ PHONG KỲ THẬP NHỊ                                      古風 其十二 


Tùng bách bổn cô trực,                                                   松柏本孤直, 

Nan vi đào lí nhan                                                          難為桃李顏。

Chiêu chiêu Nghiêm Tử Lăng,                                    昭昭嚴子陵,  

Thùy điếu thương ba gian.                                            垂釣滄波間 

Thân tương khách tinh ẩn,                                             身將客星隱 

Tâm dữ bạch vân nhàn.                                              心與白雲閑 

Trường ấp vạn thừa quân,                                           長揖萬乘君

Hoàn quy Phú Xuân san.                                           還歸富春山。

Thanh phong sái Lục Hợp,                                         清風洒六合

Mạc nhiên bất khả phan.                                               邈然不可攀。 

Sử ngã trường thán tức,                                                使我長嘆息

Minh thê nham thạch gian.                                          冥棲岩石間  

Lý Bạch                                                                       李白 

Dịch nghĩa:

Cổ phong bài mười hai

Cây tùng cây bách lẻ loi vốn mọc thẳng, khó có dáng vẻ như là cây đào, cây mận. Con người Nghiêm Tử Lăng sáng ngời ngồi buông câu giữa dòng sông sóng vỗ (c.1-4). Thân làm khách ẩn lánh cùng với sao trời, tấm lòng thanh thản, nhàn nhã cùng với đám mây trắng trôi .Vái người (quyền uy nắm giữ) muôn ngàn chiếc xe lớn, quay về lại với núi Phú Xuân (c.5-8). Ngọn gió trong trẻo mát lạnh thời Lục Hợp đã xa thăm thẳm chẳng thể níu kéo vào được. Điều đó khiến cho ta buồn sầu than thở mãi giữa vùng vách đá khi đang nghỉ ngơi trong đêm! (c.9-12)

Tạm dịch thơ:

CỔ PHONG BÀI MƯỜI HAI 

Ách tùng vốn riêng thẳng,      

Khó xinh như mận đào.

Nghiêm Tử Lăng ngời sáng,

Sóng giữa dòng, buông câu    

Khách sao trời thân lánh,

Nhàn cùng mây trắng phau.

Vái người muôn xe cộ,

Núi Phú Xuân về nào!

Gió mát lạnh Lục Hợp,    

Xa xăm khó bám vào.

Khiến ta buồn than mãi  

Vách đá nghỉ đêm thâu.


Chú thích:        


- nhan 顏: sắc mặt, dung mạo, nhan sắc, vẻ dáng bề ngoài; có khi dùng chỉ vẻ đẹp.

- chiêu chiêu 昭昭: sáng ngời, rạng rỡ, rõ ràng, rạng ngời...    

- Nghiêm Tử Lăng 嚴子陵: tên thực là Nghiêm Quang 嚴 光 tự là Tử Lăng 子陵, người vùng Dư Diêu 余姚, Cối Kê 会稽, là một ẩn sĩ nổi tiếng đứctính cao khiết, xa lánh danh lợi thời Đông Hán bên Trung Hoa, không rõ năm sinh năm mấy. Ông vốn họ Trang 庄, nhân vì kỵ huý Hán Minh Đế Lưu Trang 刘庄 nên đổi sang họ Nghiêm 嚴. Lúc còn trẻ ông nổi tiếng khắp nơi về tài văn chương. Ông lại là bạn thân với Hán Quang Vũ Lưu Tú 刘秀 thời trẻ (sau này Quang Vũ đánh đông dẹp bắc lên ngôi hoàng đế tức Hán Cao tổ) vẫn thường bàn luận, trao đổi chuyện thiên hạ và đi đây đi đó tìm thầy giỏi để học cũng như giúp ý kiến cho bạn khi Tú mới khởi binh. Lúc Hán Quang Vũ làm hoàng đế Trung Hoa, Nghiêm Quang biết thế nào Tú cũng tìm mình để mời ra làm quan nên đi ẩn cư lánh mình ở núi Phú Dương Xuân 富阳春 ở Triết Giang 浙 江, dân gian vẫn gọi tắt là Phú Xuân. Lưu Tú nhớ bạn hiền có đức, có tài nên cho vẽ hình Nghiêm Quang truyền người tìm khắp nơi. Về sau có người báo cho triều đình hình dáng người buông câu có phong thái giống như Nghiêm Quang. Vua mừng rỡ cho đem lễ vật đến mời về triều. Nghiêm Quang từ chối đôi bận. Vua vẫn kiên trì cho sứ đi mời lần thứ ba. Chẳng đặng đừng Nghiêm Tử Lăng lên kiệu theo sứ về kinh đô Lạc Dương 洛阳. Hán Cao tổ nghe tin xa giá đến thăm bạn. Tử Lăng vờ ngủ như không hay biết. Vua vỗ bụng bạn thân nói rằng: "Tử Lăng sao không thể giúp ta cai trị nước? Nghiêm Quang giờ mới ngồi dậy nói với vua rằng:" Xưa Đường Nghiêu 唐 nhường thiên hạ cho Sào Phủ 巢父, Sào Phủ nghe qua liền đi rửa tai, có ý không muốn nghe những lời mà ông cho là dơ bẩn! Kẻ sĩ chúng ta mỗi người đều có chí hướng của riêng mình, hà tất lại bắt tôi theo ý ngài". Hán Cao tổ nghe xong biết ý Tử Lăng đã quyết nên tiếp bạn ân cần và cho tiễn bạn về lại núi Phú Dương Xuân. Ông mất khoảng 80 tuổi, an táng ở núi Phú Xuân. Người đời sau gọi núi Phú Xuân là “Nghiêm Lăng sơn” 嚴陵山, gọi nơi ông ngồi câu ở sông Phú Xuân là “Nghiêm Lăng lại” 嚴 陵, gọi tảng đá nơi ông ngồi câu là “Nghiêm Tử Lăng điếu đài” 嚴子陵钓台. Thời Bắc tống, quan đại phu Phạm Trọng Yêm 范仲淹 đã cho trùng tu “Nghiêm tiên sinh từ đường” bên bờ sông Phú Xuân ở Đồng Lư 桐, đồng thời viết bài Nghiêm tiên sinh từ đường kí 嚴先生祠堂 để lưu niệm.

- thương : chỉ chung các con sông ,nghĩa khác là sự lạnh lẽo.

- Lục Hợp (Hiệp)六合: bên Trung Hoa hiện nay có huyện Lục Hợp ở Giang Tô nhưng Lục Hiệp cũng là cách gọi sáu nước chư hầu trong Thất hùng liên kết nhau để đánh Tần: Bảy nước lớn thời Chiến Quốc (thế kỷ thứ 3 TCN) (戰國七 Chiến Quốc thất hùng) gồm có Tề , Sở, Yên, Hàn, Triệu , Ngụy  và Tần . Đó là thời của nhiều anh hùng hào kiệt trọng nghĩa khí ,cùng chung lòng muốn diệt Tần cuồng bạo và Lý Bạch lại là người rất mến mộ những người như thế (xem: Hiệp khách hành, Kinh Hạ Bì dĩ kiều hoài Trương Tử Phòng, Phù Phong hào sĩ ca... v.v. của Lý Bạch ở các bài trước)

- bạch vân 白雲: mây trắng, cũng để chỉ những người xa lánh cuộc đời ,giữ khí tiết trong sáng như Nguyễn Bỉnh Khiêm ở nước ta (tác phẩm chính là Bạch Vân Am Thi Tập). Một số sách ghi là: "Tâm dữ phù vân nhàn" 心與浮雲閑 (Lòng vẫn thong dong nhàn hạ giữa những đổi thay, biến dời như mây nổi)

- trường ấp 長揖: vái dài để từ chối. 

- sái : âm của tẩy (chùi rửa, lau sạch) cũng có nghĩa là lạnh run.

- mạc nhiên 邈然 : xa thẳm, xa xôi, rất xa...

- phan : bám víu, vịn kéo, nhờ cậy.   


Bài 56       


CỔ PHONG KỲ THẬP BÁT                                     古風 其十八


Thiên Tân tam nguyệt thì,                                             天津三月時, 

Thiên môn đào dữ lý.                                                   千門桃與李。  

Triêu vi đoạn trường hoa,                                              為斷腸花, 

Triêu vi đoạn trường hoa,                                              為斷腸花, 

Mộ trục đông lưu thủy.                                                  暮逐東流水。

Tiền thủy phục hậu thủy                                                前水復後水

Cổ kim tương tục lưu.                                                  古今相續流。  

Tân nhân phi cựu nhân,                                                 新人非舊人

Niên niên kiều thượng du.                                            年年橋上游

Kê minh hải sắc động,                                                   雞鳴海色動,

Yết đế la công hầu.                                                        謁帝羅公侯。

Nguyệt lạc tây Thượng Dương,                                     月落西上陽,

Dư huy bán thành lâu.                                                    余輝半城樓。

Y quan chiếu vân nhật,                                                    衣冠照雲日, 

Triều hạ tán hoàng châu.                                                朝下散皇州。

An mã như phi long,                                                       鞍馬如飛龍 , 

Hoàng kim lạc mã đầu.                                                  黃金絡馬頭。

Hành nhân giai tích dịch,                                               行人皆辟易,

Chí khí hoành Tung khâu.                                              志氣橫嵩丘。

Nhập môn thượng cao đường,                                        入門上高堂,

Liệt đỉnh thố trân tu.                                                      列鼎錯珍羞。

Hương phong dẫn Triệu vũ,                                           香風引趙舞,

Thanh quản tùy Tề âu.                                                   清管隨齊謳。

Thất thập tử uyên ương,                                                 七十紫鴛鴦,

Song song hí đình u.                                                      雙雙戲庭幽。

Hành nhạc tranh trú dạ,                                                  行樂爭晝夜 

Tự ngôn độ thiên thu,                                                    自言度千秋。

Công thành thân bất thối,                                               功成身不退,

Tự cổ đa khiên vưu.                                                       自古多愆尤。

Hoàng khuyển không thán tức,                                      黃犬空嘆息,

Lục châu thành hấn cừu.                                                綠珠成舋仇

Hà như si di tử,                                                              何如鴟夷子,

Tán phát trạo biển chu.                                                 散髮棹扁舟。 

Lý Bạch                                                                        李白     


Dịch nghĩa:


Cổ phong bài thứ mười tám


Vùng Thiên Tân vào lúc tháng ba ,ngàn ngôi nhà với những cây đào cây mận (đang rộ hoa). Sáng sớm làm những bông hoa nở cũng đớn đau xé lòng, thế mà buổi chiều tối đã theo dòng nước xuôi chảy về phía đông! (c.1-4) Con sông thuở trước đây quay trở lại thành con sông đời sau. Xưa và nay theo nhau như dòng nước xuôi chảy; người mới đến đây không phải là người xưa nữa! Hằng năm trên cầu nhiều người vẫn rong chơi. (c .5-8)


Tiếng gà gáy làm cho sắc mầu của biển cả lay động. Chầu vua (trong triều) có rất nhiều bậc công hầu. Vầng trăng đã lặn xuống phía tây của cung điện Thượng Dương còn lại ánh sáng rực rỡ chiếu vào nửa lầu cao của thành trì (c.9-12). Áo mũ (các quan) như mây trời tản mát khắp đất vua sau buổi thiết triều . Họ lên yên cưỡi ngựa như rồng bay với chiếc dàm bằng vàng tròng ở đầu ngựa (c.13-16). Người đi đường đều dạt tránh họ. Lòng dạ khí phách của họ (tưởng như)ngang ngữa với dãy núi Tung! Họ đi vào nhà hướng đến căn phòng cao ráo bày biện vạc đỉnh đặt vào những thức ăn quý hiếm. Những luồng gió thơm tho dẫn đến điệu múa của nước Triệu cùng với tiếng sáo thanh thoát mang theo bài dân ca nước Tề. (C. 9-22)


Cặp uyên ương tuổi bảy mươi áo vải màu tía, đôi lứa cười đùa ở sân trong vắng lặng. Họ vui chơi giành hết ngày lại đêm thâu và tự nói rằng mình vượt qua bến bờ ngàn thu! (C. 23-26).


Khi việc đã thành nhưng thân không chịu lui về; từ xưa đã lắm chuyện sai lầm như thế! Con chó màu vàng lặng lẽ than thở! Viên ngọc màu xanh lục thành sự rạn nứt hờn oán! Tại sao không như kẻ nâng chén rượu sống bình dị, xõa tóc buông bỏ mọi thứ để chèo con thuyền nhỏ kia! (C.27 -32).


Tạm chuyển lục bát: 


CỔ PHONG BÀI MƯỜI TÁM


Thiên Tân đang lúc tháng ba,

Rộ đào cùng mận ngàn nhà thắm bông.

Sớm làm hoa nở xé lòng,  

Xế chiều theo nước xuôi dòng về đông.

Dòng sau dòng trước con sông, 

Xưa nay trôi mãi nối cùng với nhau.

Đây người mới ,cũ còn đâu,      

Hằng năm nhàn dạo trên cầu thong dong.

Tiếng gà màu biển động rung,       

Chầu vua lắm kẻ công hầu đó đây!

Thượng Dương trăng lặn về tây,

Nửa thành lầu sáng còn bày ánh soi.

Chiếu vào mũ áo mây trời,

Đất vua tản mát khắp rồi chầu xong.

Bay lên yên ngựa như rồng!

Dàm vàng buộc ngựa tròng lên đằng đầu.

Đi đường người hoảng lùi mau!

Chí người ,khí phách khác nào núi Tung!

Phòng cao hướng đến vào trong,      

Cho bày vạc đỉnh thức ngon đặt vào.

Gió lùa múa Triệu thơm sao!

Ca Tề tiếng sáo theo nhau trong vời!

Uyên ương áo tía bảy mươi,

Lứa đôi sân vắng giỡn cười lao xao.    

Vui ngày giành hết đêm thâu,   

Tự cho bờ bến ngàn thu vượt rồi!

Việc thành, thân chẳng chịu lui,

Từ xưa lắm chuyện bao người lầm sai,

Chó vàng lặng lẽ thở dài,

Ngọc xanh rạn nứt thành đây hận tràn!

Như người bình dị, chén nâng,   

Thuyền con xõa tóc thong dong mái chèo!


Chú thích:


- Thiên Tân 天津: là vùng đất có từ thời cổ đại bên Trung Hoa, nằm về phía đông trên vùng đồng bằng do Hoàng Hà phát nguyên từ phía tây chảy ra biển Bột Hải bồi đắp. Từ thời Chiến quốc (thế kỷ thứ 5 TCN) nơi đây đã có dân cư sinh sống. Thiên Tân cũng là nơi có bến cảng để thuyền bè qua lại trao đổi mua bán hàng hóa từ xa xưa.

- câu 3&4: Triêu vi đoạn trường hoa, 朝為斷腸花, Mộ trục đông lưu thủy 暮逐東流水..... của Lý Bạch có lẽ là nguồn cảm hứng cho nhiều văn nhân nước ta. Chẳng hạn Nguyễn Du trong bài Hành lạc từ kỳ nhị 行樂詞其二 làm sau bài này của Lý Bạch khoảng một ngàn năm đã có những suy nghĩ tương tự như Lý Bạch về sự biến dịch và vô thường của cuộc sống và con người: Sơn thượng hữu đào hoa 山上有桃花, Xước ước như hồng ỷ 綽約如紅綺。Thanh thần lộng xuân nghiên 清神弄春妍, Nhật mộ trước nê trĩ 日暮著泥涬. (Trên núi có hoa đào xinh đẹp như tấm lụa hồng. Lúc sáng sớm còn đùa giỡn xinh tươi với mùa xuân,chiều hôm đã đến với bùn dơ). Xem "Thanh Hiên Tiền Hậu Tập", bài 41 /D.A.Sơn chuyển dịch /<ninh-hoa.com> và <nguyenhuehaingoai.blogspot.com>)  

- trục : đuổi theo, lần lượt, đuổi đi, tranh giành....

- Thượng Dương 上陽: tên một cung điện nhà Đường, Trung Hoa là nơi Đường Minh Hoàng dùng để tiếp các quan vào yết kiến.

- yết đế 謁帝: diện kiến, hầu chuyện với vua, chầu vua...

- tích dịch 辟易: đi thụt lùi lại, đi lui lại, khai khẩn.

- chí khí 志氣: chỗ đặt tâm trí vào đó, chí nguyện và khí phách của một người...

- Tung khâu 嵩丘: chỉ ngọn Tung Sơn, T.H. là một trong năm ngọn núi (Ngũ Nhạc) nằm ở Đăng Phong, Trịnh Châu, Hà Nam gần bên Hoàng Hà được người Trung Hoa xem là nơi linh thiêng vì có các kẻ đắc đạo hay thần tiên ẩn dật. Xưa kia nó  được xem là ngọn núi nằm giữa trung tâm của nước Trung Hoa có tên là Trung Nhạc trên đỉnh có ngọn Tuấn Cực là nơi cao nhất tiếp giáp với trời! Ở đây, Lý Bạch châm biếm những ông quan có tước vị chút đỉnh tự cho mình tài trí giỏi giang ngang với bậc đạo cao đức trọng đang ẩn cư trên ngọn núi Tung này!

- liệt 列: bày biện, bày trận, thứ hạng, ngôi thứ....

- khiên vưu 愆尤: sai lầm, lầm lỗi...

- thố : âm của Thác (mạ kim loại, sai lầm, lẫn lộn, vẻ cẩn thận...) .Thố là bày biện, đặt vào, đặt để, loại bỏ, thi hành....

- âu : ca ngợi, ca tụng, dân ca của nước Tề thời Chiến quốc.

- hấn : vết nứt rạn trên viên ngọc hay mu rùa, sành sứ...

- si di tử 鴟夷子:  (di: chén uống rượu  cú tai mèo, diều hâu) người thích nâng chén rượu uống với cuộc sống bình dị, đơn giản.

- tán phát 散髮: xõa tóc ra, tóc không ràng buộc, tóc không búi lại... Nguyễn Du trong Nam Trung Tạp Ngâm với bài "Giang đầu tản bộ kỳ nhất 江頭散步其一 " có câu: Tán phát cuồng ca tứ sở chi 散髮狂歌恣所之 cho thấy thái độ phóng túng, không muốn bị trói buộc của Tố Như tiên sinh khi ra làm quan nhà Nguyễn.... (xem "Nam Trung Tạp Ngâm", bài.29/D.A Sơn chuyển dịch /<ninh-hoa.com> và  <nguyenhuehaingoai.blogspot.com>)    


Dương Anh Sơn


(Lần đến: Thơ Lý Bạch / Bài 57: Cổ phong thứ 10, Bài 58 : Cổ phong thứ 14, Bài 59: Cổ phong thứ 35)                                                                                                                                                                                                                                                                                                                              

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét