Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2022

AHĐPTĐTTT: Phần 2, Chương II, Mục 4: Giải Cấu Là Duyên

 


AHĐPTĐTTT: PHẦN 2, CHƯƠNG II, MỤC 4: GIẢI CẤU LÀ DUYÊN
Thầy Dương Anh Sơn

PHẦN HAI 

VỊ TRÍ TƯ TƯỞNG ĐẠO PHẬT TRONG ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

CHƯƠNG II

SỰ TƯƠNG HỢP GIỮA TƯ TƯỞNG ĐẠO LÃO VÀ TƯ TƯỞNG ĐẠO PHẬTTRONG ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

Mục 4 

GIẢI CẤU LÀ DUYÊN
邂 逅  

Tiếp đến, chúng ta lại có thể sử dụng nhãn quan Đạo gia và đạo Phật để giải thích phần nào mối dây ràng buộc giữa Thúy Kiều với Đạm Tiên, Kim Trọng, Thúc Sinh và Từ Hải.  

1/- Với Đạo gia, việc gặp gỡ, không hẹn mà gặp (giải cấu) giữa Đạm Tiên với Thúy Kiều được xem là sự hội ngộ của những cung bậc đồng điệu, cộng hưởng với  nhau mà trong Dịch Kinh gọi là:   

“Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”   
 同 聲 相 應,同 氣 相 求。
 (cùng thanh âm thì ứng đáp, cùng tính khí thì tìm nhau) 

Bởi thế, khi mới thấy: “Sè sè nắm đất bên đường” (c.57), khi được nghe em gái Thúy Vân kể lại thân phận Đạm Tiên, Kiều đã cảm thấy một sự gần gũi thân thiết nào đó với mình, với cuộc đời mình:


Dễ hay tình lại gặp tình”                 (c. 117)


Và ngay cảm nhận “tình lại gặp tình”, bóng dáng Đạm Tiên biểu tượng của “những đấng tài hoa”(c.115)  đã xuất hiện để đáp lại kẻ đồng thanh khí với mình là nhân vật Thúy Kiều:


“Hữu tình ta lại gặp ta”                    (c. 127)


Ta lại gặp ta”! Qua lời thơ này ,phải chăng Thúy Kiều đã gặp lại chính hình ảnh của cuộc đời nàng tương hợp với cuộc đời của Đạm Tiên?


Rồi sau đó, bóng ma Đạm Tiên lại nhiều lần xuất hiện trong những lúc tâm hồn Kiều xao động bất an, chính Đạm Tiên đã cho thấy điều đó:


Thưa rằng: "Thanh khí xưa nay          (c. 193 )

"Cũng người một hội, một thuyền đâu xa”   (c. 202)


Sự gặp gỡ cùng mối giao cảm với Đạm Tiên nếu do sự đồng thanh khí với Đạm Tiên đã cho thấy bản chất của Kiều, một người con gái “hữu tình” ("Hữu tình ta lại gặp ta" c.127) lại "đa tình", nên cũng dễ dàng đồng cung điệu với Thúc Sinh:


“Lạ gì thanh khí lẽ hằng”                      (c. 1287)


Nhưng mối giao tình với Thúc Sinh ấy không sâu đậm như với Đạm Tiên, Kim Trọng, hoặc với Từ Hải về sau, vì rằng:


“Lâm chung chút nghĩa đèo bồng”       (c. 1785)


Đã là “chút nghĩa đèo bồng”, tuy có chút đồng thanh khí nhưng không kết hợp một cách chặt chẽ sâu bền được. Sự tương ứng giữa hai con người có sâu đậm hay không là do sự kết hợp vừa có tình  lại vừa có nghĩa. Nếu chỉ có "chút nghĩa đèo bồng" sẽ hời hợt qua mau và không gắn kết lâu dài và tác động mạnh mẽ cũng như gắn bó với cuộc đời Thúy Kiều!


2/- Tuy vậy, dưới nhãn quan Đạo Phật, mọi sự tương phùng, hội ngộ dưới bất cứ hình thức nào, bằng “tình” hay với “nghĩa” đều được giải thích bằng nguyên lý Duyên Khởi, Nhân Duyên, nghĩa là do cái Duyên của những kẻ "đồng thanh khí" từ tiền kiếp trong quá khứ ngẫu nhĩ nào đó. 


Cho nên, nếu Đạo gia gọi là “Thanh Khí” thì Phật gia lại gọi là “Quả Kiếp Nhân Duyên” (câu 201) gồm nhiều nguyên lý cộng thông là Nhân Quả, Luân Hồi, Duyên Khởi. Tố Như tiên sinh đã cho thấy tính chất tương hợp này giữa Đạo gia và Phật gia, nhưng chỉ có đạo Phật mới có thể giải thích đầy đủ và rõ ràng, lý do của sự gặp gỡ, tương phùng của những kẻ cùng “thanh khí” mà thôi:


“Thưa rằng: “Thanh khí xưa nay           (c. 193-202) 

. . . . . 

Âu đành quả kiếp nhân duyên

Cũng người một hội một thuyền đâu xa”     


Hai câu sau mang đậm màu sắc đạo Phật đã gián tiếp giải thích điều ở bên trên. Sự đồng thanh khí chỉ là cái vẻ bề ngoài, nhưng “quả kiếp nhân duyên” mới chính là nguyên nhân sâu xa bên trong đã tạo ra những mối tương phùng vậy. Duy thức học của nhà Phật  quan niệm nơi mỗi cá thể đã ẩn tàng những “chủng tử” (bijas - cái mầm sống) nằm ở trong trạng thái A Lại Gia Thức (Alaya) chờ đợi những cơ duyên thuận tiện để xuất hiện. Kiều đã chứa sẵn trong tâm thức nàng những chủng tử này. Và Đạm Tiên, Thúc Sinh, Từ Hải hay Kim Trọng v.v... chỉ là những tổng thể mà thôi. Thượng tọa Nhất Hạnh đã luận về trạng thái A Lại Gia và chúng ta có thể qua đó xác định những điều mà Tố Như đã gọi là “âu đành quả kiếp nhân duyên”:


Tất cả những gì cá nhân đã làm trong suốt đời mình, tất cả những nghiệp nhân đã tạo, bây giờ đều hiện hữu trong A Lại Gia ở dạng tiềm tàng. Tuy nằm trong hình thái chủng tử như vậy nhưng tất cả những thứ đó đều tiếp tục biến chuyển, nghĩa là tiếp tục sinh hoạt dưới định luật nghiệp báo: A Lại Gia là tổng thể (la somme) của tất cả những thứ đó và ở đây, A Lại Gia được nhận định là bản thân của nghiệp” [1]


Thêm vào đó, "Thành Duy Thức Luận" (một cuốn sách có từ xưa của Phật giáo Ấn Độ được Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang người Trung Hoa dịch) cũng giải nghĩa: “Tuy hình tướng khác nhau, nhưng đồng một thời, đồng một chỗ, đồng cảnh sở duyên và đồng một việc thì gọi là “tương ứng”. [2]


3/- Thành thử, Đạo gia và Phật gia đã “tương ứng”, hòa hiệp với nhau trong tư tưởng Nguyễn Du để kết cấu những mối tương phùng. Dĩ nhiên, vai trò của đạo Phật đã được xây dựng, không những bổ túc cho Đạo gia, mà còn thích nghĩa và xác định nguyên nhân của những cơ duyên ấy nữa.


Ngoài ra, bóng dáng của Đạo gia và Phật gia cũng hòa hợp trong những cuộc gặp gỡ quan trọng đánh dấu những chặng đời của Thúy Kiều cũng như với Kim Trọng và Từ Hải.


Giữa Kim Trọng và Thúy Kiều, mối lương duyên thúc đẩy hai người tương ngộ không phải xảy ra một cách ngẫu nhiên. Cơ hội đi lễ tảo mộ, chơi hội Đạp thanh trong tiết Thanh Minh chỉ là môi trường tốt để những kẻ đồng thanh khí và cùng nhân duyên gặp gỡ nhau mà thôi. Cho nên , Tố Như tiên sinh đã sắp đặt câu chuyện của đôi tình nhân Kim Trọng và Thúy Kiều:   


“Trộm nghe thơm nức hương lân         (c. 155-l60)  

Một nền Đồng tước khóa xuân hai Kiều 

Nước non cách mấy buồng thêu

Những là trộm nhớ thầm yêu chốc mòng”   

“May thay giải cấu tương phùng              (c.159)   

Gặp tuần đố lá thỏa lòng tìm hoa”.  


Trộm nghe thơm nức hương lân” đã cho thấy Kim Trọng  có duyên với hai Kiều từ lâu. Vì thế, khi những kẻ đồng thanh khí gặp nhau, tất nhiên sẽ dễ dàng giao cảm với nhau, và tìm đến với nhau (tương cầu) chứ không phải chỉ là tình cờ gặp nhau ("giải cấu tương phùng"):


“Người quốc sắc kẻ thiên tài                                   (c.163)     

Tình trong như đã mặt ngoài còn e!” 


Đôi khi Kiều cũng tự hỏi lòng mình về cái duyên ngẫu nhĩ đó song ở giai đoạn đầu khi mới quen biết Kim Trọng, nàng vẫn chưa ý thức rõ về mối duyên tương phùng. Ý thức được, tức là thấy rõ cái nghiệp của mình mà duyên hội ngộ với chàng Kim Trọng chỉ là một trong những tiến trình của nghiệp quả mà thôi.    


“Người đâu gặp gỡ làm chi                   (c. 161)     

Trăm năm biết có duyên gì hay không?”   


Nhưng rồi khi đã thực sự quen nhau, đã trao nhau “của tin” để “làm ghi”(c.356) đã khởi duyên cho cuộc tình của Kim Kiều. Do mối duyên tương ngộ nên khi gặp nhau thì "tình trong như đã ,mặt ngoài còn e! " (c.164)! Kim Trọng hay chứng nhân của đời Kiều đã định nghĩa rõ hơn về sự gặp gỡ đó: 


"Sinh rằng:“Giải cấu là duyên”                (c. 419)


Việc tình cờ gặp gỡ là mối duyên ngộKinh Thi, một trong những nguồn suối của Đạo gia đã viết: Giải cấu tương ngộ thích ngã nguyện hề. (Tình cờ không hẹn mà gặp thực thỏa lòng mong ước của ta - Trần Trọng Kim dịch).


Bề ngoài là sự tình cờ nhưng với đạo Phật việc gặp gỡ dù thoáng qua hay bền chặt đều do mối nhân duyên từ thuở nào của tiền kiếp hay của mối duyên nghiệp.


4/-  Và chữ Duyên trong câu này mang âm hưởng của lý Nhân Duyên của nhà Phật. Nói khác đi, Tố Như tiên sinh đã tổng hợp trong câu trên cùng một lúc thuật ngữ và ý nghĩa của Đạo gia và Phật gia. Tuy nhiên, nếu xét kỹ càng, chúng ta có thể thấy tiên sinh mượn thuật ngữ “Duyên” của nhà Phật để bổ nghĩa cho thuật ngữ “giải cấu” bằng một liên từ với chữ "là " (giải cấu là duyên). Và nếu bước thêm một bước nữa, Tố Như đã đưa ra con đường để hóa giải những tâm sự ngổn ngang ám ảnh Kiều("Ngổn ngang trăm mối bên lòng" c.183) bởi lời “người tướng sĩ” đoán vận mệnh nàng (duyên hiểu theo nghĩa rộng), đồng thời chọn biện pháp làm thế nào để Kim Trọng có thể sống với mối duyên tương ngộ đó (duyên hiểu theo nghĩa hẹp):


"Sinh rằng: “Giải cấu là duyên                        (c.419)    

Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”


Điều đó, cho thấy vai trò của đạo Phật ít nhiều đã giúp làm nổi bật và rõ nghĩa những gì mà Đạo gia chỉ mới đưa ra nửa vời. Về sau, cái được gọi là “nhân định” để “thắng thiên” chính là chữ tâm mà Kiều đạt được. Mặt khác tuy Kim Kiều  gặp nhau bởi chữ Duyên nhưng để tái hợp sau chặng đường mười lăm năm trường cũng nhờ sự cố gắng của cả chàng Kim và cả Thúy Kiều."  Lòng này" hay là cái tâm của nàng Kiều đã định đoạt cho số mệnh của chính mình trong mối giao ngộ với một chàng Kim luôn mang trong mình "tình sâu nghĩa trọng"! Chính vì thế chàng Kim Trọng, chứng nhân của đời Kiều, đã nhận ra:


"Tẻ vui bởi tại lòng này”                                      (c.3209)   


Mặt khác, nếu duyên hội ngộ giữa Thúy Kiều và Kim Trọng có tính cách gắn bó “là nhiều vàng đá” thì với Từ Hải, nàng đã lấy tình "tri kỷ" để đối xử với nhau. Hai bên đã gặp gỡ và hiểu biết nhau, không phải chỉ bởi “lạ gì quốc sắc, thiên tài phải duyên”, song hai bên đã đồng thanh khí với nhau, có duyên với nhau:


Hai bên ý hợp tâm đầu”                                    (c. 2205)  

 Khi thân chẳng lọ là cầu mới thân”


Câu trên có âm hưởng Đạo gia thích ứng với những kẻ đồng thanh khí như Kiều và Từ Hải. Câu dưới lại cho thấy ảnh hưởng của Phật gia nơi cái Duyên Nghiệp giữa Từ và Thúy Kiều, ví rằng “chẳng lọ là cầu mới thân” không cầu mong đợi chờ, nhưng khi duyên nợ đã đến thì không thân cũng thành thân tình. Nói khác hơn, một bên do ví như “cá  với nước” luôn có mối gắn bó khăng khít từ thủa tạo lập vũ trụ và một bên do “duyên ưa” (câu 2275: Cá nước duyên ưa) do mối nhân duyên từ kiếp nào ! Một bên là “anh hùng” mới có thể “biết anh hùng”, biết được những kẻ đồng cung điệu và có nghiệp duyên với mình vậy.


“Anh hùng mới biết anh hùng”                          (c.2277)   

hoặc:     

“Khen cho con mắt tinh đời                               (c.2201)  

Anh hùng đoán giữa trần ai mới già!   

Một lời đã biết đến ta, 

Muôn chung, nghìn tứ cũng là có nhau!”  


Nhìn chung , đi từ việc "đồng thanh khí" hay "đồng thanh tương ứng"  để rồi "không hẹn mà gặp" (giải cấu) theo lối nhìn của đạo gia, đạo Phật đã đi sâu hơn vào mối duyên ngộ của Kim Trọng với Thúy Kiều hay giữa Thúy Kiều với Từ Hải để thấy rõ hơn về các mối duyên ngộ trong đời đều có liên quan mật thiết với NHÂN DUYÊN .Nguyễn Du rất tinh tế khi cho rằng GIẢI CẤU LÀ DUYÊN để chỉ rõ sự gặp gỡ dẫu là nhìn bề ngoài có vẻ tình cờ nhưng cái nhìn xuyên suốt của Tố Như  đã nối kết với biết bao mối DUYÊN NGHIỆP đã gắn bó với nhau từ kiếp nào dưới cái nhìn của đạo Phật.   


Dương Anh Sơn   


[1] Nhất Hạnh, Vấn đề nhận thức trong Duy Thức Học, Sài Gòn XB, 1969, trang 53.

[2] Thích Thiện Hoa, Duy Thức Học, Tập II, Sài Gòn, Hương Đạo XB (lần 2), 1962, tr.38.

(Lần đến: Phần 2, Chương II, Mục 4:  KHÚC ĐÂU ĐẦM ẤM DƯƠNG HÒA) 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét