Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2019

Người Phụ Nữ Đẹp Nhất Thế Giới Ở Nhà Thờ Đức Bà Paris



Gina Lollobrigida - Người đàn bà đẹp nhất "Nhà thờ Đức Bà Paris"

Nhắc đến nền điện ảnh Ý, người ta không thể nào quên cái tên Gina Lollobrigida, biểu tượng nhan sắc làm khuynh đảo màn ảnh suốt 5 thập kỷ.

Gina Lollobrigida sinh năm 1927 tại thị trấn thơ mộng Subiaco, Rome. Từ khi còn là thiếu nữ, Gina Lollobrigida đã nổi tiếng với nhan sắc mặn mà, nổi bật hơn bạn bè cùng trang lứa.

Khi bắt đầu bước chân vào làng giải trí, Gina Lollobrigida đã nhanh chóng trở thành biểu tượng nhan sắc hồi những năm 50, 60 thế kỉ trước. Cô sở hữu thân hình được đánh giá là cực chuẩn với vòng 1 đầy đặn, vòng eo con kiến tô lên vẻ đẹp sexy đầy bản năng của người đẹp nước Ý. Mái tóc xoăn nhẹ, đôi môi hờ hững của Gina Lollobrigida từng khiến cánh đàn ông thế giới chao đảo.

Năm 1955, Gina Lollobrigida chính thức trở thành Hoa hậu Italia và đạt danh hiệu " Người phụ nữ đẹp nhất thế giới ". Lollobrigida từng là một trong những phụ nữ làm điên đảo làng giải trí Ý với sắc đẹp ngang ngửa Elizabeth Taylor hay Sophia Loren.

Với sự quyến rũ của mình, Gina Lollobrigida được mệnh danh là "Biểu tượng tình dục của điện ảnh Ý".


Nhắc tới Gina Lollobrigida người ta không thể nào quên vai diễn của cô trong bộ phim Nhà thờ Đức Bà Paris (1956) chuyển thể từ tiểu thuyết Notre-Dame de Paris của nhà văn nổi tiếng Victor Hugo. Đây cũng là lần đầu tiên tiểu thuyết này được chuyển thể sang bản phim màu, trước đó bản phim vào năm 1939 do Maureen O'Hara thủ vai là bản đen trắng.


Không quá lời khi nói rằng Gina Lollobrigida là người đàn bà đẹp nhất nhì "Nhà thờ Đức Bà Paris" khi ấy. Vẻ đẹp đầy đặn kết hợp cùng vòng eo siêu nhỏ đầy nóng bỏng cùng Gina Lollobrigida trong Nhà thờ Đức Bà Paris đã khiến làng điện ảnh thế giới từng điên đảo một thời.


"Phụ nữ tuổi 20 sắc như băng, đến 30 tuổi thì ấm áp và đến 40 thì nóng bỏng".

Gina Lollobrigida từng có câu nói vô cùng bất hủ: "Phụ nữ tuổi 20 sắc như băng, đến 30 tuổi thì ấm áp và đến 40 thì nóng bỏng".

Gần 90 tuổi vẫn phải vác đơn đi kiện người tình 

Xinh đẹp, nổi tiếng như vậy nhưng đường tình duyên của Gina Lollobrigida lại không hề thuận buồm xuôi gió. Năm 1949, Gina Lollobrigida tổ chức hôn lễ với bác sĩ người Nam Tư Milko Skofic - một người đàn ông yêu bà say đắm.

Cả hai có với nhau một đứa con tên là Andrea Milko. Sau khi kết hôn, Milko Skofic từ giã nghề Y để quyết định làm quản lý cho Gina Lollobrigida.

Gina Lollobrigida và chồng Milko Skofic trêu đùa nhau tại LHP Cannes năm 1958.

Năm 1960, Lollobrigida cùng chồng và con chuyển từ Ý tới Toronto, Canada sinh sống. Sau 22 năm bên nhau, Gina Lollobrigida và Milko Skofic quyết định đường ai nấy đi vào năm 1971.

Gina Lollobrigida và con trai.

Trước đó, truyền thông từng xôn xao chuyện Lollobrigida ngoại tình với Christiaan Barnard, một bác sĩ người Nam Phi và là người tiên phong trong phẫu thuật ghép tim. Đây cũng là nguyên nhân khiến cuộc hôn nhân nhiều năm của bà và chồng tan vỡ.

Sau khi ly hôn, Lollobrigida từng đính hôn với George Kaufman, một đại gia bất động sản ở New York nhưng rồi cũng nhanh chóng chia tay.


Khi Lollobrigida 57 tuổi, bà gặp Javier Rigau y Rafols, một doanh nhân người Tây Ban Nha 23 tuổi tại một bữa tiệc ở Monte Carlo. Bất chấp tuổi tác, cả hai nhanh chóng say đắm nhau và hẹn hò suốt 22 năm.

Nói về chuyện tình này, Lollobrigida từng thú nhận: "Tôi luôn cảm thấy mềm yếu trước những chàng trai trẻ. Họ hào phóng và không phức tạp".

Vào năm 2006, Lollobrigida từng rục rịch tổ chức đám cưới với Javier Rigau y Rafols nhưng không hiểu tại sao không hề có đám cưới nào và sau đó nhanh chóng chia tay.

Javier Rigau y Rafols và Lollobrigida khi còn mặn nồng.

Năm 2013, Lollobrigida đã đâm đơn kiện Javier Rigau y Rafols vì phát hiện hôn phu cũ của bà đã âm thầm tổ chức một lễ cưới bí mật với một người phụ nữ mạo danh bà nhằm âm mưu được hưởng một phần tài sản kếch xù khi bà qua đời.

Lollobrigida tiết lộ với báo giới: "Con người "đê tiện" này đã kết hôn với "tôi" mà không hề cho tôi biết trước hay để ý đến cảm giác của tôi. Tất cả những gì anh ta làm chỉ nhằm thừa kế một phần tài sản của tôi sau khi tôi chết. 

Sẽ có một cuộc điều tra quốc tế bởi tôi muốn làm sáng tỏ vụ việc "bẩn thỉu" này cùng tất cả những người liên quan đến nó. Tôi phát hiện ra vào tháng 11/2010, anh ta đã trở thành chồng của tôi ở Barcelona trước sự chứng kiến của 8 người khác. Thật là khó tin! Tại nhà thờ, đứng cạnh anh ta là một người phụ nữ khác và tất nhiên là có cả một vị giám mục mà tôi chưa từng gặp".


Trước những cáo buộc từ Gina Lollobrigida, Javier Rigau Rafols bác bỏ và cho rằng hôn lễ được tổ chức không công khai bởi minh tinh này muốn tất cả diễn ra trong tĩnh lặng để tránh gây chú ý trên truyền thông. Doanh nhân người Tây Ban Nha này còn nói rõ người tình lớn tuổi hơn mình đã hạnh phúc ký văn bản đồng ý cho một người phụ nữ khác đại diện kết hôn vắng mặt.

Theo tờ Vanitatis, tòa án phán quyết những cáo buộc của Gina Lollobrigida về gian lận hôn nhân là vô căn cứ.

Gần hết cuộc đời mình, Lollobrigida vẫn chẳng thể nào có một cuộc tình yên ấm.


Thứ Năm, 2 tháng 5, 2019

Mai Em Lấy Chồng

GIỚI THIỆU
Xin mời quý Thầy, Cô, quý Đồng Môn và Thân Hữu
Thưởng thức PPS Thơ & Nhạc MAI EM LẤY CHỒNG. Thi hữu Quách Như Nguyệt chia sẻ.

Thơ: Quách Như Nguyệt
Nhạc: Nguyễn Hữu Tân
Hòa âm: Nguyễn Thanh Hùng
Trình bầy: Hà Huệ Mẫn
PPS: Tony Phước Vũ

Trân trọng,
NHHN



Xin mời thưởng thức PPS Thơ & Nhạc MAI EM LẤY CHỒNG




Chị Tôi




Thứ Tư, 1 tháng 5, 2019

Nỗi Sầu Vong Quốc




LK ANH Ở ĐÂY (TV&VĐN) - HÃY THA THỨ CHO EM (TH) - thienthuntth 04-2013

GIỚI THIỆU
Kính thưa quý vị, những ngày tháng đầu tiên sau khi các "người tù" được chuyển về các trại tù như Long Giao, Suối Máu, Trảng Lớn, Tống Lê Chân v.v... sau 30/4.  Hầu như tất cả mọi người TÙ ai cũng đều nghe đều hát nho nhỏ bài hát "ANH Ở ĐÂY"  của Nhạc Sĩ Thục Vũ. Bài hát được nhanh chóng lan truyền khắp nơi mang niềm u uẩn nghẹn ngào khi bị lùa vô các trại TÙ.

Khi ra Bắc, vẫn nhạc ấy nhưng do Trung Tá Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm sáng tác lời hai... buồn muốn chết được, và lòng người Tù muốn quên cảnh đời đen bạc ấy nên vẫn ngày ngày ê a bài hát ANH Ở ĐÂY với cả hai lời.

Tôi  muốn mời quý vị nghe lại bản nhạc này hôm nay, và chính tôi như muốn trào nước mắt vì bài hát đem tôi trở về với những tháng năm khổ ải nhất của một đời người.

Trân trọng,

thienthuntth

LK ANH  ĐÂY (TV&VĐN) - HÃY THA TH CHO EM (TH) - thienthuntth 04-2013 


Xin mời quý vị thưởng thức LK ANH Ở ĐÂY & HÃY THA THỨ





Cột Cờ Đầu Tiên Tại Little Saigon

GIỚI THIỆU
Khi nào bạn có dịp đi ngang qua cây cột cờ đầu tiên dựng trên con phố Bolsa nơi Little Saigon, xin bạn gửi lên lá cờ vàng tung bay ấy một cái nhìn trìu mến. Chính lá cờ Vàng ấy mới thực sự làm ấn chứng đầu tiên cho cái thị tứ mà về sau, vào ngày 17 tháng 6 năm 1988 đã được chính quyền sở tại công nhận chính danh “Little Saigon” (bảng hướng dẫn exit vào Little Saigon đã được dựng trên freeway 22 trước khi vào exit Magnolia). vì nơi đây, đã trở thành một thành phố được mệnh danh “Thủ Đô Người Việt Nam Tỵ Nạn”.
Lê Giang Trần



CỘT CỜ ĐẦU TIÊN TẠI LITTLE SAIGON
(Lê Giang Trần)


Vài lời nói trước: Người viết về câu chuyện này may mắn là bạn của 3 người trong nhóm vận động dựng cột cờ, nên đã được biết khá rõ ràng. Trong phạm vi giới hạn một bài viết, người viết chỉ vắn tắt, cốt yếu nhấn mạnh về ý nghĩa của cột cờ đầu tiên do chính người Việt Nam Tỵ Nạn dựng lên, hơn là chi tiết chính xác sử liệu. Rất mong độc giả chia sẻ, cũng như các nhân vật trong cuộc cảm thông bỏ qua những thiếu sót. Bài viết này được viết riêng cho chuyên mục “Người Việt, 30 Năm Tỵ Nạn và Định Cư” như một đóng góp nhỏ bé trong việc ghi lại quá trình thành hình và phát triển của cộng đồng Việt Nam tại Little Saigon.

1981, năm Con Gà, trong một bài phóng sự của tờ LA Times do một nữ phóng viên gốc Trung Hoa viết về nơi phố thị Bolsa, bà đã ví von nơi này như là một “Little bit Saigon”. Dần dà người ta bỏ đi chữ bit, “Little Saigon” định danh từ đó. Nhìn lại, 24 năm, sang năm 2005 Ất Dậu là 3 con gà. Chợt nhớ Ất Dậu 1945 ngày xưa ở Việt Nam…


Năm 1982 là năm định hình cho một phố thị Việt Nam tại quận Cam, con đường huyết mạch chính là Bolsa Ave với khoảng 100 cửa hàng Việt Nam mọc lên lúc bấy giờ. Tuy nhiên, chưa nhộn nhịp hẳn vì hãy còn những khoảng đất vườn dâu, vườn cam, vườn rau nằm rải rác hai bên đường. Một chợ thực phẩm duy nhất là chợ Hòa Bình nằm cùng dãy với quán Café Le Crossand D’orée.

Ít người biết rằng, không phải con đường Bolsa khai sinh ra nơi tập trung buôn bán, mà khởi đầu là trên con đường Wesminster, gần đến đường Golden West đã có ngôi chợ Việt Nam, chợ Quê Hương, đầu tiên tại đấy cho mãi đến 1982 vẫn còn, và rải rác dọc trên con đường này từ năm 1977 đến 1982 nhiều cửa hàng đã thành hình. Nhưng kể từ khi MiNi Mall (khu nhà sách Tú Quỳnh, nhà hàng Thành Mỹ) thành hình trên đường Bolsa, rồi Nguyễn Huệ, rồi khu nhà hàng Song Long nối tiếp, hầu hết các tiệm ở đường Wesminster cũng lục tục dọn qua khu tập trung mới trên đường Bolsa. Chợ Quê Hương đổi chủ rồi cũng bị chợ Hòa Bình hút hết khách nên ế ẩm và đóng cửa, chấm dứt thời kỳ phôi thai kinh doanh trên con đường Westminster bất hạnh.

Trong sự thành hình của con phố Bolsa, sau 30 năm, dân Việt cư kỳ cựu ở vùng đất này nên nhắc đến một sự việc có tầm vóc tinh thần rất lớn đối với người Việt Tỵ Nạn sinh sống tại Little Saigon mà có lẽ theo thời gian đã chìm vào quên lãng, những người đến Little Saigon định cư sau này có thể cũng không nghe ai kể lại. Đó là cây cột cờ Việt nam đầu tiên được dựng lên tại khu thương xá Nguyễn Huệ, nơi có nhà hàng Đồng Khánh và phở Nguyễn Huệ. Nơi đây, lá quốc kỳ Việt Nam được phép chính thức treo phất phới trên nền trời, khẳng định và đại diện cho một dân tộc, một quốc gia, một sắc dân Tỵ Nạn Cộng sản đến định cư trên đất nước Hoa Kỳ. Lá cờ tượng trưng cho hồn thiêng sông núi, tiêu biểu cho một giá trị lịch sử đã được gìn giữ và hy sinh bằng biết bao xương máu cho lá cờ ấy, lá cờ Vàng Việt Nam biểu tượng của một dân tộc có tự do đã bị cướp đoạt. Họ hoặc vượt thoát hoặc bị xua đuổi khỏi quê nhà và chỉ mang theo một ấn chứng duy nhất là lá cờ của dân tộc họ, lá quốc kỳ xác định một quốc gia mà thế giới đã công nhận.


Trước năm 1989, là năm cộng sản Việt Nam mở cửa mời đón kiều bào về thăm quê hương, trước đó đối với người Việt Tỵ Nạn tại hải ngoại, quê nhà chỉ còn có trong tâm tưởng, không biết đến bao giờ mới trở về lại cố hương.

Năm 1984, một phóng viên tờ LA Times đăng bài phóng sự về chuyến đến thăm Little Saigon, ông nêu lên nhận xét “Little Saigon không chỉ là một trung tâm thương mại, đối với tôi, Little Saigon là trung tâm của quá khứ và một lịch sử được mang theo từ Việt Nam…”

Thực vậy, Little Saigon được xem là “thủ đô Tỵ Nạn”, một nơi có sinh hoạt chính trị mạnh mẽ, đồng thời tập trung hầu hết các văn nhân nghệ sĩ về đây sinh sống, đã tạo cho Little Saigon có một sắc thái đô thị đặc biệt, thu hút không riêng du khách Việt, du khách ngoại quốc cũng tò mò tìm đến viếng thăm nơi gọi là “Vietnamese Town”.


Trở lại, vào cuối năm 1984, một số quân nhân đứng lên lập nhóm để vận động với chính quyền thành phố Wesminster, xin được dựng cột cờ treo lá quốc kỳ Việt Nam tại khu thương xá Nguyễn Huệ. Nhóm này gồm năm người:

Khoảnh đất dựng cột cờ đã xin được của chủ phố là ông Triệu Phát. Mọi thứ được tiến hành trong hồi hộp nôn nao nhưng bằng tinh thần của quân đội, quả quyết, tự tin, danh dự. Tại sao hồi hộp? Đấy là khoảng thời gian tinh thần chống cộng ở cao điểm, thành phần cộng kiều trà trộn hoạt động ngầm trong cộng đồng Việt Nam thì luôn nằm trong bóng tối, họ theo dõi mọi sinh hoạt của cộng đồng Tỵ Nạn. Theo thống kê của chính quyền Orange County thời đó, mức quan tâm về tội phạm băng đảng trong cộng đồng Việt Nam không phải là con số nhỏ (số thống kê vào năm 1989 là 41%). Thời đó, chuyện nổ súng thanh toán trong hàng quán, vũ trường gần như là chuyện thường tình. Đối với quân nhân thì xem là trò trẻ con, nhưng tình huống nổ súng bất ngờ không biết ai là ai, đáng phải đề phòng.

Khi tin tức dựng cột cờ được công khai phổ biến thì có truyền đơn rơi, thư hăm dọa phóng vào nhóm quân nhân khởi xướng tổ chức dựng cột cờ. Cường cụt đã nhiều lần được dán “note” vào kiếng xe anh với lời lẽ đại ý “Hãy bỏ ý đồ ngu xuẩn dựng cột cờ, thời thế đã thay đổi, đã hết thời của các anh v.v…” Vì những hăm dọa được tung ra tới tấp từ trong bóng tối như vậy, nhóm dựng cột cờ phải lưu tâm đề phòng, một mặt vẫn tiến hành việc làm của họ.

Ngày 18 tháng 3 năm 1989 Lễ Thượng Kỳ được tổ chức. Nhóm dựng cờ gửi thư mời đại diện các tổ chức chính trị, hội đoàn, đặc biệt là các tướng lãnh, các sĩ quan cao cấp trong quân đội hiện đang sống trong vùng hoặc lân cận. Ngày Lễ ấy có hai vị tướng đến chứng kiến là Tướng Nguyễn Ngọc Oánh ở Fressno về và Tướng Nguyễn Bảo Trị. Nhóm có mời được Hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ đến dự. Từ San Jose, nguyên Đại Úy Không Quân Lại Thế Hùng xuống để điều hợp Lễ Thượng Kỳ.


Đêm trước ngày thượng kỳ, Cao Xuân Huy trải “nốp” sleeping bag dưới chân cột cờ ngủ giữ vì cộng kiều tung thư hăm dọa sẽ ủi sập cột cờ. “Nằm đó, nó ủi thì mình chết trước” Cao Xuân Huy nói rồi cười khẩy, tiếp “Bộ tui để nó ủi khơi khơi dễ dàng à! ĐM, tui hổng biết làm gì tụi nó à?” Lữ Mộc Sinh thì nổi máu con gà điên pollo loco, thề nặng “Tui mà không kéo lá cờ lên được thì tui chặt bàn tay tui dưới cột cờ rồi kéo nó lên”.

Đêm đó, ngoài một số quân nhân tự nguyện âm thầm thức suốt đêm canh giữ, còn có một số “anh em Bolsa”, những tay thứ thiệt, cũng ngấm ngầm lập vòng đai, đặt điểm trong các quán gần đó để “coi thằng nào lạ mặt nhốn nháo là hỏi giấy, ĐM, VC là tụi em thịt liền”. Rõ ràng là một đêm dài căng thẳng. Làm sao mấy quân nhân ấy không thủ “giò gà”. Đêm rồi qua, chỉ có mấy con mèo hoang quậy kêu ngoài thùng rác giấc khuya.

Sáng ngày thượng kỳ, các quan khách, tướng lãnh đứng trên lan can lầu, trước văn phòng Luật Sư Trần Sơn Hà nhìn xuống. An ninh toàn khu vực đã được kín đáo trấn thủ chặt chẽ, kể cả bên kia đường, ngã tư đường. Cường cụt ngồi xe lăn, dưới hai chân cụt, cây UZI sẵn sàng. Hai tay nghiêm trang nâng lá quốc kỳ xếp thẳng băng vàng rực, cùng với lá quốc kỳ hoa sao Mỹ. Quân nhân Hổ, cụt một chân, đẩy xe lăn cho Cường cụt hai chân. Lại Thế Hùng điều khiển nghi lễ Thượng Kỳ. Tony Diamond kéo quốc kỳ Việt nam lên, Cường cụt kéo quốc kỳ Mỹ lên. Theo quy định cho phép, lá quốc kỳ Mỹ phải treo cao hơn quốc kỳ Việt Nam vì là cờ quốc gia chủ. Cường cụt lúc thượng kỳ quá xúc động, lòng yêu nước tăng lên sao ấy, chỉ kéo cờ Hoa Kỳ bằng ngang cờ Việt Nam. Vậy mới có chuyện.

Đám phản chiến Mỹ bỗng xuất hiện sau đó, đòi cắt dây hạ cờ Việt Nam xuống vì đã dám kéo cao bằng ngang cờ Mỹ. Nhóm đại diện Cựu Quân Nhân Mỹ bèn can thiệp. Nhóm dựng cờ phải theo luật định, nhích lá cờ Việt Nam xuống thấp nửa lá cờ Mỹ. Tạm êm chuyện. Cộng kiều có lẽ nhận được chỉ thị mới, bất động, không thấy cho xe đến ủi, không thấy bắn sẻ, không pháo kích, không đặt plastic hay gài mìn claymort, chỉ có gió xuân thoang thoảng mùi hoa trúc đào và trên cao gió lộng, lá cờ vàng tung bay phần phật. Lần đầu tiên nơi hải ngoại, lá cờ của hồn thiêng sông núi Việt Nam vươn mình uốn lượn như con rồng tung mình vờn gió xuân.

Một cụ già mù có người con trai đưa đến dự lễ, khi lắng nghe có tiếng phần phật cờ reo, ông níu cánh tay người con hỏi: “Cờ đã kéo lên được chưa con?” “Dạ, kéo lên xong rồi Ba”. Cụ già bật khóc nức nở, gương mặt không còn ánh sáng đôi mắt lộ đầy xúc động mếu máo, bàn tay run run vịn chặt vai người con trai bên cạnh, anh cũng rưng rưng theo nỗi niềm của người cha. Cao Xuân Huy tình cờ đứng gần, chứng kiến, quay vội vào tường cho giọt nước mắt nóng hổi của mình lăn khỏi con mắt.

Bầu không khí trang nghiêm long trọng ấy, khi lá Cờ Vàng Việt Nam tung bay trên nền trời Little Saigon, ai chứng kiến mà không vui buồn lẫn lộn, xúc động ngậm ngùi hòa lẫn hãnh diện lâng lâng. Ôi phải 10 năm, từ 1975 đến 1985, mười năm sau mới thực sự tận mắt nhìn thấy lại lá cờ oai linh của đất nước Việt Nam tung bay cùng gió lộng.. Thôi… âu cũng là niềm an ủi lớn lao cho tâm trạng lưu vong trên đất khách quê người… cho ấm lòng chiến sĩ….

Nhà báo Du Miên cho biết, cột cờ Việt Nam tuy dựng lên là được sự cho phép của City Westminster, nhưng dựng xong vẫn chưa có văn bản chính thức. Sau khi dân Mỹ tại đây thấy cờ Việt Nam kéo lên, đã phản đối mạnh mẽ lên cơ quan chính quyền thành phố, họ đòi hạ xuống, khiến City lúng túng. Bấy giờ ông Trần Duy Hòe (thuộc Lực Lượng Đặc Biệt) phải xông xáo ra vào city đòi hỏi phải có văn bản cho phép chính thức cho cây cột cờ đã thành hình. Cuối cùng, một nghị quyết của chính quyền thành phố Westminster được ban hành, chấp nhận trên pháp lý về sự hiện hữu hợp lý của cây cột cờ. Đó là công lao của Ông Hòe và một số người thầm lặng cùng sát cánh với ông.

Vài hôm sau ngày thượng kỳ, dây cột cờ bằng nylon bị cắt đứt, lá cờ chao đảo chới với như kẻ sắp chết đuối kêu cứu. Thay dây mới. Lại bị cắt đứt. Kỳ này chúng ông thay bằng dây thép, siết bù lon lại, xem cộng kiều các con làm sao. Lữ Mộc Sinh tập họp anh em Bolsa, giao phó: “Tụi anh đã làm xong việc dựng cột và treo cờ. Đến phiên tụi em giữ cờ”. Như vậy, lá quốc kỳ Việt Nam lành lặn tung bay cũng nhờ có một phần góp tay canh giữ của “anh em Bolsa” thời ấy.

Những ngày kế tiếp sau ngày thượng kỳ, dưới chân cột cờ liên tục được nhiều người mang đến những chậu hoa tươi bày kín khắp cả chung quanh, bày tỏ niềm vui và lòng yêu kính lá quốc kỳ. Ngày 30 tháng 4 năm 1985, sau hơn một tháng dựng cờ được tổ chức “Đêm Không Ngủ” dưới ngọn cờ vàng. Đêm không ngủ đầu tiên dưới ngọn cờ quê hương thật là đầy ý nghĩa, thật đậm đà tình người, thật vui và cũng siết ngậm ngùi khi thả hồn nhớ nghĩ về quê nhà, bên ấy còn bao người thân ngóng chờ mòn mỏi, bên các trại Tỵ Nạn thì khổ cực, kêu cứu tuyệt vọng…

Thêm một chi tiết. Nơi khoảnh đất dành cho cột cờ có ngọn đèn đường đứng sát bên ngoài, nên nhìn vào cột cờ bị che khuất. Do hồn thiêng sông núi xui khiến sao đó, xuất hiện anh Diệp Thanh Tùng, tự nguyện chờ nửa khuya, mang xe cần cẩu lớn đến, cắt dây điện ra, dời cột đèn vào sâu trong sân, nối dây điện lại cho đèn cháy bình thường. Hỏi ra, anh là nhân viên đang làm trong Ty Điện Lực, thấy cột đèn che cột cờ coi chướng mắt không chịu nổi, bèn nổi máu anh hùng, bứng cột đèn đi chỗ khác chơi. Làm xong việc, lặng lẽ ra đi. Ai tin chuyện này có thể xảy ra, vậy mà đã xảy ra, mới thấy cây cột cờ linh thiêng thật.

Từ 1985-1988, 3 năm liền tổ chức đêm 30 tháng 4 tại khuôn viên nhỏ hẹp nơi chiếc cột cờ phất phới lá cờ vàng. Ba năm ấy, một quân nhân Thủy Quân Lục Chiến là Huỳnh Minh Châu, người cao lớn, tính ít nói và hiền lành, tự nguyện làm người thay cờ, giữ cho lá cờ luôn được lành lặn và rực rỡ. Tiếp tục lặng lẽ bao năm trời đến ngày hôm nay, không biết đã có bao nhiêu tấm lòng âm thầm nối tiếp duy trì gìn giữ để từng ngày từng đêm trên bầu trời Bolsa vẫn không vắng bóng lá cờ. Ai biết? Ai thương?

Sau khi tin tức lan truyền về cột cờ đầu tiên ở hải ngoại, có một vị là nhân viên của sứ quán Việt Nam ngày trước ở San Francisco, đã liên lạc với nhóm dựng cờ để mang lá quốc kỳ Việt Nam treo ở tòa sứ quán mà ông đang gìn giữ cẩn thận, mang đến bàn giao cho nhóm để treo lá quốc kỳ ấy lên. Buổi lễ được tổ chức thật cảm động và trang nghiêm ở trung tâm sinh hoạt Nguyễn Khoa Nam. Ông Trần Duy Hòe đại diện đứng ra nhận lá quốc kỳ.

Sau năm 1989, do Cộng Sản Việt Nam mở cửa, Việt Nam dần dà không còn là một quê hương xa vời trong tâm tưởng như những năm về trước. Vết thương lòng đã nguôi ngoai, dấu chân của lịch sử cát bụi đã lấp bằng. Những lá cờ Việt Nam được dựng treo khắp nơi ở hải ngoại khắp thế giới, người Việt ở hải ngoại nhìn những lá cờ treo quá quen mắt. Nhưng nếu ai là người chứng kiến phút giây lịch sử khi lá cờ Việt Nam lần đầu tiên được kéo lên tung bay trên bầu trời Tỵ Nạn nơi xứ người, mới cảm nhận được trọn vẹn sự linh thiêng, tôn quý đối với một lá cờ được giữ gìn bằng biết bao xương máu của những vị anh hùng vị quốc vong thân.

Sau năm 2000, tôi tưởng có lẽ chính mình cũng đã quên đi. Bỗng một hôm, nhìn thấy hàng ngàn người Việt Nam Tỵ Nạn ngồi biểu tình trong đêm lạnh, khi cùng nhịp, phất lên lá cờ vàng nhỏ bé trong tay, hàng ngàn lá cờ nhịp nhàng đồng phất lên theo những cánh tay ấy đã khiến tôi nghẹn cứng cả lồng ngực. Sức mạnh khủng khiếp của màu cờ đánh thức một cái gì bừng dậy trong tôi. Tôi không hiểu là cái gì, nhưng tôi biết chắc, hồn thiêng sông núi Việt Nam là một điều có thật, đừng quên.

Đến cuối năm 2004, sau gần 30 năm từ mốc lịch sử 1975, lá cờ hồn thiêng sông núi, lá quốc kỳ Việt Nam màu vàng ba sọc đỏ, riêng tại Hoa Kỳ, đã được hầu hết các tiểu bang trên nước Mỹ công nhận là lá cờ của người dân Việt Nam Tự Do, không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản, đã vượt thoát ra đi, đi tìm tự do và định cư trên khắp thế giới. Lòng đấu tranh kiên quyết gìn giữ màu cờ dân tộc đã được đáp đền, đã được hồn thiêng sông núi Việt Nam, anh linh của anh hùng tử sĩ hy sinh dưới lá quốc kỳ tự do ấy phù trợ cho tấm lòng son sắt của dân tộc.

Khi nào bạn có dịp đi ngang qua cây cột cờ đầu tiên dựng trên con phố Bolsa nơi Little Saigon, xin bạn gửi lên lá cờ vàng tung bay ấy một cái nhìn trìu mến. Chính lá cờ Vàng ấy mới thực sự làm ấn chứng đầu tiên cho cái thị tứ mà về sau, vào ngày 17 tháng 6 năm 1988 đã được chính quyền sở tại công nhận chính danh “Little Saigon” (bảng hướng dẫn exit vào Little Saigon đã được dựng trên freeway 22 trước khi vào exit Magnolia). vì nơi đây, đã trở thành một thành phố được mệnh danh “Thủ Đô Người Việt Nam Tỵ Nạn”.

Lê Giang Trần

Thế Giới Tồi Tệ Sau Cái Chết Của VNCH


Người dân miền Nam Việt Nam di tản sau ngày 30 Tháng Tư, 1975. (Hình: Flickr manhhai)

THẾ GIỚI NGÀY CÀNG TỒI TỆ HƠN SAU CÁI CHẾT CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA

Vann Phan

Sau khi Thế Chiến Thứ Hai (1939-1945) kết thúc hồi tiền bán thế kỷ 20, phần còn lại của thế kỷ này có sáu sự kiện được coi là nổi bật nhất.

Đó là việc Cộng Sản Trung Hoa đánh đuổi Trung Hoa Dân Quốc ra đảo Đài Loan và chiếm quyền cai trị tại Hoa Lục (1949), cuộc Chiến Tranh Triều Tiên (1950-53), cuộc Chiến Tranh Đông Dương (1946-1954), cuộc Chiến Tranh Việt Nam (1960-1975), Sài Gòn thất thủ trước cuộc tấn công của các lực lượng Cộng Sản Bắc Việt (1975), và sự tan rã của Khối Cộng Sản Đông Âu (1989) kéo theo sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết (1991).

Khác với năm sự kiện kia trong hậu bán thế kỷ 20, cái chết của Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 30 Tháng Tư, 1975, đã dẫn đến những hậu quả khốc liệt và dai dẳng, chẳng những kéo dài sang những thập niên đầu của thế kỷ 21 mà sẽ còn tiếp diễn trong nhiều thập niên tới nữa.

Niềm tin vào công lý và hòa bình hầu như tan vỡ

Thật không thể nào kể hết những hậu quả tồi tệ gây ra cho dân tộc Việt Nam cũng như dân chúng Hoa Kỳ và cộng đồng thế giới yêu chuộng tự do, dân chủ sau cái chết của Việt Nam Cộng Hòa, một nền Cộng Hòa non trẻ nhưng vẫn là một tấm gương sáng tại vùng Đông Nam Á. Bất kể sự thể chính phủ và nhân dân miền Nam Việt Nam thời đó cứ liên tục bị các lực lượng thù địch từ khối Cộng Sản Quốc Tế và từ những quốc gia tự do, dân chủ lầm mê không ngớt đánh phá và rủa sả cho đến khi quốc gia đáng thương này bị xóa tên trên bản đồ thế giới.

Hậu quả trước tiên và trầm trọng nhất của việc để cho Cộng Sản quốc tế ngang nhiên xóa sổ một quốc gia có chủ quyền và từng được hơn 50 nước – tức là hơn 2 phần 3 tổng số thành viên tổ chức Liên Hiệp Quốc thời đó – công nhận là một đòn nặng giáng vào lẽ công bằng và nền đạo lý thế giới.

Đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại khi cái Ác nghiễm nhiên thắng cái Thiện giữa tiếng reo hò đồng lõa chẳng những của phe phản chiến tại Mỹ và dân đòi hỏi hòa bình với bất cứ giá nào tại miền Nam Việt Nam mà còn của đám thiên tả quốc tế, cầm đầu là Thủ Tướng Olof Palme của Thụy Điển. Ông là người chuyên đề cao “chính nghĩa” của Cộng Sản Bắc Việt trong cuộc chiến tranh xâm chiếm Miền Nam Tự Do, đồng thời ra sức miệt thị cuộc chiến đấu bảo vệ tự do, dân chủ của Việt Nam Cộng Hòa, trong khi rõ ràng là những kẻ Ác trong hai trận Thế Giới Đại Chiến và Chiến Tranh Triều Tiên trước đó đều đã bị cái Thiện đánh bại.

Sau Việt Nam Cộng Hòa, niềm tin vào công lý và hòa bình hầu như tan vỡ, và tiền lệ Ác thắng Thiện từ cuộc Chiến Tranh Việt Nam năm xưa đang trở thành thông lệ của thế giới ngày nay, với những “người hùng” mới trong chốn giang hồ, như Vladimir Putin của Nga, Tập Cận Bình của Trung Cộng, Kim Jong Un của Bắc Hàn, Ayatollah Khamenei của Iran, Recep Tayyiv Erdogan của Thổ Nhĩ Kỳ, và gần đây nhất là Nicolás Maduro của Venezuela.

Một khi Ác đã thắng Thiện, nền đạo lý của thế giới cứ thế mà liên tiếp suy đồi, tiêu biểu là niềm tin vào tôn giáo cũng như số tín đồ đi nhà thờ hoặc đi chùa dần dà suy giảm, nhất là những tôn giáo có giáo luật khắt khe như Công Giáo La Mã khi các vị chủ chiên phải chứng kiến cảnh giáo dân ngày càng đòi hỏi quyền tự do thoát khỏi các giáo điều nghiêm ngặt, trong khi một số các tu sĩ nay muốn xin hoàn tục để có thể lấy vợ.

Ngày nay, tiếp theo sau sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa, tổ chức Liên Hiệp Quốc, ra đời từ sau Thế Chiến Hai với mục đích duy trì trật tự thế giới, bảo vệ nhân quyền và ngăn ngừa các nước lớn khỏi thôn tính các quốc gia nhỏ yếu, đành bất lực. Liên Hiệp Quốc chỉ biết đứng nhìn trật tự thế giới bị đảo lộn, nhân quyền bị vi phạm khắp nơi, và các nước mạnh tha hồ sáp nhập lãnh thổ của các nước yếu mà thế giới vẫn tỉnh bơ chẳng nói năng gì, từ bán đảo Crimea ở Ukraine qua đồi Golan Heights ở Syria cho đến các hải đảo thưa người trên Biển Đông (South China Sea).

Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, một thế giới đang hớn hở vì việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam bỗng bàng hoàng khi phải chứng kiến cảnh hàng triệu người Việt Nam bỏ nước ra đi để lánh nạn Cộng Sản – một chế độ cai trị mà cộng đồng quốc tế lúc bấy giờ vẫn lầm tưởng là sẽ đem lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho toàn thể nhân dân Việt Nam.

Theo đó hàng trăm nghìn thuyền nhân (boat people) đã bỏ mạng trên đường vượt biển qua Thái Lan, Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Indonesia, và Singapore, trong khi một số nhỏ hơn gồm các bộ nhân cũng đã chết vì bị truy đuổi hoặc kiệt sức trên đường vượt biên giới Việt Nam để qua Cambodia và Lào trên đường tới Thái Lan.

Làn sóng thuyền nhân Việt Nam vượt biển tìm tự do trong các thập niên 1970, 80 và 90 đã tạo nên một cuộc khủng hoảng nhân đạo không tiền khoáng hậu trong lịch sử của Liên Hiệp Quốc, với việc Phủ Cao Ủy Tị Nạn của tổ chức này đã phải vất vả huy động tài nguyên để cứu trợ dân tị nạn và tìm kiếm các đệ tam quốc gia chịu đón nhận những con dân Việt Nam đã đánh mất quê hương đến tái định cư.

Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, một thế giới đang hớn hở vì việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam bỗng bàng hoàng khi phải chứng kiến cảnh hàng triệu người Việt Nam bỏ nước ra đi để lánh nạn Cộng Sản. (Hình: Flickr manhhai)

Miếng mồi ngon của chủ nghĩa vật chất

Đối với nước Mỹ, kẻ đã chọn nhân dân miền Nam Việt Nam làm bạn đồng minh trong nỗ lực ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng Sản quốc tế, để rồi sau đó bỏ rơi nửa chừng các chiến hữu của mình vào tay kẻ thù chung, hậu quả của việc đánh mất miền Nam Việt Nam cũng thê thảm không kém.

Trước hết, phong trào phản chiến tại Mỹ và phong trào híp-pi (hippie) đòi tự do tuyệt đối chống các giá trị truyền thống, cùng với cuộc cách mạng tình dục (sex revolution) nằm trong hệ tư tưởng mà các nhà nghiên cứu gọi là “ý thức hệ thập niên 1960” (“1960s ideology”) từng làm rung chuyển tận gốc rễ các xã hội bảo thủ tại nhiều quốc gia Tây phương, đã được hà hơi, tiếp sức bởi chiến thắng của phe Cộng Sản tại Việt Nam.

Hậu quả của ý thức hệ mới này là đại đa số dân chúng tại các quốc gia Tây phương đều dần dà trở thành miếng mồi ngon của chủ nghĩa vật chất (materialism), với khuynh hướng thủ đắc và hưởng thụ các khoái lạc vật chất thay vì xả thân cho các lý tưởng, trong đó có lòng yêu nước (patriotism) từng là vốn quý của các nhà lập quốc Mỹ (founding fathers) trong sự nghiệp đánh đuổi thực dân Anh để giành độc lập cho Mỹ Quốc hồi hạ bán thế kỷ 18.

Sau Việt Nam, nước Mỹ thụt lùi mãi trên võ đài thế giới, và lần lượt để mất Mozambique (Tháng Sáu, 1975) rồi Angola (Tháng Mười Một, 1975) vào tay phe Cộng Sản, Iran (Vương Quốc Ba Tư) vào tay phe Hồi Giáo chính thống triệt để chống Mỹ (Tháng Giêng, 1979), và Nicaragua vào tay phiến quân cánh tả được Cộng Sản ủng hộ (Tháng Bảy, 1979).

Nhưng thảm bại đau đớn nhất vẫn là sự suy thoái của ảnh hưởng Mỹ tại Á Châu-Thái Bình Dương, trong đó phải kể đến việc đồng ninh Phi Luật Tân bất ngờ yêu cầu Mỹ đóng cửa Căn Cứ Không Quân Clark (Clark Air Base) hồi năm 1991 và Quân Cảng Subic (Subic Bay) hồi năm 1992.

Và kế đó là việc Trung Cộng liên tục lấn chiếm các hải đảo và bãi đá tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông (mà quốc tế gọi là South China Sea) từ năm 1988 (lúc Trung Cộng đánh chiếm nhóm đảo Gạc Ma, tức Johnson South Reef, của Cộng Sản Việt Nam) để thiết lập các pháo đài kiên cố trên vùng biển này, có diện tích bao trùm ba phần tư Biển Đông, với mục đích bành trướng lãnh thổ và khống chế con đường hàng hải quốc tế từ Tây Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương.

Trung Cộng làm được điều này vì sau khi chính quyền Nixon-Kissinger, dưới áp lực của Quốc Hội Mỹ do đảng Dân Chủ nắm quyền, đã để mất quần đảo Hoàng Sa mà Việt Nam Cộng Hòa đang sở hữu vào tay Trung Cộng hồi Tháng Giêng, 1974, trước khi nước Mỹ chính thức bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa vào tay các lực lượng Cộng Sản quốc tế, trong đó chủ yếu là Trung Cộng, hồi Tháng Tư, 1975.

Hoa Kỳ nịnh nọt kẻ thù cũ của mình

Ăn năn thì đã muộn rồi, Hoa Kỳ dưới thời Tổng Thống Barack Obama (2009-2017) đã phát động một chính sách Á Châu-Thái Bình Dương mới, gọi là Chuyển Trục Về Á Châu (Pivot to Asia), gia tăng sự hiện diện quân sự của Mỹ nhằm ngăn chặn ảnh hưởng chính trị, kinh tế và quân sự ngày một nguy hiểm hơn của Trung Cộng tại Tây Thái Bình Dương, đặc biệt là vùng Đông Nam Á.

Chính sách mới của Mỹ từ sau cuộc Chiến Tranh Việt Nam đặc biệt chú trọng tới hai nước Phi Luật Tân, một đồng minh lỏng lẻo của Mỹ (sau khi Hoa Kỳ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa khiến Phi Luật Tân mất tin tưởng vào việc liên minh gắn bó với Mỹ) và Cộng Sản Việt Nam, kẻ cựu thù của Mỹ trong chiến tranh, nước đang thay thế Việt Nam Cộng Hòa cũ để duy trì chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang bị các nước Phi Luật Tân, Đài Loan, Mã Lai Á, Indonesia, Brunei, và nhất là Trung Cộng, tranh chấp quyết liệt.

Đối với Phi Luật Tân, vào năm 2014. Mỹ đã dụ dỗ và ký được Thỏa Hiệp Tăng Cường Cộng Tác Quốc Phòng (Enhanced Defense Cooperation Agreement) với họ, cho phép Mỹ thiết lập các căn cứ quân sự mới tại quốc gia Đông Nam Á này, sau khi đã bị hất cẳng ra khỏi các căn cứ hải và không quân tại Phi Luật Tân hồi đầu thập niên 1990.

Đối với Cộng Sản Việt Nam, Mỹ lại càng ráo riết ve vãn gấp bội để nước này trở thành một đối tác chiến lược quan trọng trong vai trò chận đứng sức mạnh quân sự ngày một to lớn của Trung Cộng trên Biển Đông, mặc dù Hoa Kỳ thừa biết rằng Cộng Sản Việt Nam, trước sau như một, vẫn là đệ tử ruột của Bắc kinh vì họ cùng chung ý thức hệ Cộng Sản.

Thật tội nghiệp cho Hoa Kỳ dưới các chính quyền Barack Obama và Donald Trump khi cường quốc này có những hành động gần như nịnh nọt kẻ thù cũ của mình chỉ để được cái vinh dự tặng không cho Cộng Sản Việt Nam các tàu tuần duyên dùng trong lực lượng Cảnh Sát Biển. Không chỉ vậy, còn để họ cho phép Hạm Đội Thái Bình Dương của Mỹ (U.S. Pacific Fleet) đưa tàu chiến, kể cả hàng không mẫu hạm, đến cập cảng Vịnh Cam Ranh cho đỡ nhớ nhung “thuở tung hoành hống hách những ngày xưa” chứ chẳng có hy vọng gì lôi kéo được nước chủ nhà theo chế độ cộng sản này về phía mình để chống Trung Cộng cả.

Lẽ ra thì ngày nay Hoa Kỳ không cần phải làm thế nếu họ đã không phạm một sai lầm chiến lược cực kỳ tai hại, đó là bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa vào tay Cộng Sản hồi năm 1975.

Hoa Kỳ phạm một sai lầm chiến lược cực kỳ tai hại, đó là bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa vào tay Cộng Sản hồi năm 1975. (Hình: Flickr manhhai)

Thế giới đang ngày càng bất an hơn

Một sự kiện tiêu biểu cho niềm ân hận sâu xa của dân tộc Mỹ khi trót lỡ để mất tiền đồn Việt Nam Cộng Hòa chống Trung Cộng cách nay nửa thế kỷ vào tay Cộng Sản là việc Thượng Viện California vừa thông qua Nghị Quyết SCR 7 “Black April-Tưởng Niệm Tháng Tư Đen” do Thượng Nghị Sĩ Dân Chủ Tom Umberg, là đồng tác giả cùng với Dân Biểu Dân Chủ Tom Daly và Dân Biểu Cộng Hòa Tyler Diệp, đệ trình bằng tỉ số phiếu tuyệt đối 36/0.

Thông cáo báo chí của văn phòng Thượng Nghị Sĩ Tom Umberg cho biết Nghị Quyết SCR 7 mang nội dung tưởng niệm 44 năm ngày Sài Gòn thất thủ và quy định Tháng Tư, 2019, là “Black April-Tưởng Niệm Tháng Tư Đen,” một thời điểm đặc biệt để người dân California tưởng nhớ về vô số sinh mạng đã nằm xuống trong thời kỳ Chiến Tranh Việt Nam, hướng đến công lý, tự do và nhân quyền cho nhân dân Việt Nam.

Dịp này, Thượng Nghị Sĩ Umberg tuyên bố: “Điều quan trọng là chúng ta không bao giờ quên thảm kịch ‘Black April-Tháng Tư Đen’ và nhận thức được mối quan tâm hàng đầu hiện nay của những người Mỹ gốc Việt là nhân quyền, tự do tôn giáo, dân chủ, và đấu tranh chống lại nguy cơ đất nước Việt Nam bị ngoại bang xâm lược.”

Cách đây mấy năm, nhân tưởng niệm 41 năm ngày Việt Nam Cộng Hòa, biểu tượng của nền tự do, dân chủ và tính nhân bản của con người, sụp đổ trước đoàn quân xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt, một số tác giả cho rằng thế giới đang ngày càng bất an hơn, thế giới còn gian dối hơn, nham hiểm hơn, phản phúc hơn, vô liêm sỉ hơn, vô thần hơn, ham mê vật chất hơn, và vô đạo đức hơn.

Một lý do đơn giản là sự phản bội “vĩ đại” của thế giới – không riêng gì Hoa Kỳ là nước triệt để theo thực dụng chủ nghĩa – đối với Việt Nam Cộng Hòa đã là nguồn cảm hứng vô song cho cái Ác tiến lên giữa lúc cái Thiện đang ngày càng co rúm lại trên đường rơi xuống vực thẳm của hư không.

Tình trạng tồi tệ này của thế giới ngày nay đang được nhận thấy rõ ràng với sự ra đời của tổ chức khủng bố ISIS thuộc Nhà Nước Hồi Giáo (Islamic Caliphate), các hoạt động thủ đắc võ khí nguyên tử, gây bất an và tạo mầm mống xung đột tại vùng Trung Đông của Cộng Hòa Hồi Giáo Iran.

Việc Liên Bang Nga của Vladimir Putin ngang nhiên đưa quân vào uy hiếp thủ đô Tbilisi của Georgia để yểm trợ cho tỉnh South Ossetia ly khai khỏi nước này, việc Liên Bang Nga cưỡng chiếm và sáp nhập bán đảo Crimea của Ukraine đồng thời đưa nhân sự và vũ khí vào yểm trợ cho vùng Donbass (Đông Ukraine) ly khai.

Hành động ngang ngược của Trung Cộng từ việc bành trướng lãnh thổ trên Biển Đông và hiếp đáp các quốc gia nghèo trong sáng kiến Vành Đai và Con Đường (Belt and Road Initiative) cho tới hành động do thám để phá hoại an ninh thế giới của tập đoàn viễn thông Hoa Vi (Huawei), kế hoạch phát triển bất hợp pháp võ khí nguyên tử và hỏa tiễn đạn đạo của Bắc Hàn nhằm đe dọa an ninh của Nam Hàn, Nhật Bản và cả Hoa Kỳ.

Cuộc thanh trừng và đàn áp không nương tay phe đối lập và nhóm người Kurds thiểu số trong nước của chính quyền Tayyiv Erdogan tại Thổ Nhĩ Kỳ, hành động bỏ đói và đàn áp dân chúng của chính quyền Nicolás Maduro tại Venezuela, và ngay cả tình trạng chia rẽ vì bè phái chưa từng thấy trong lịch sử của nước Mỹ trước và sau cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ hồi năm 2016, dẫn đến việc tỷ phú Donald Trump trở thành vị tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ.

Thay lời kết

Tình trạng tồi tệ này của thế giới ngày nay phát sinh từ thái độ hèn nhát và hùa theo “công lý kẻ chiến thắng” (“victor’s justice”) của quốc tế trước cái Ác sau khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay quân Cộng Sản, khởi đầu từ sự thể cộng đồng thế giới đã dửng dưng đứng nhìn Cộng Sản Bắc Việt trắng trợn xé bỏ Hiệp Định Paris 1973 lập lại hòa bình tại Việt Nam (Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Viet Nam).

Việc này có chữ ký của bốn thành phần lâm chiến là Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, và có sự bảo đảm của các cường quốc trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc – khi họ xua quân đánh chiếm Miền Nam Việt Nam, làm tan vỡ niềm tin của nhân loại vào công lý và hòa bình và mở rộng cánh cửa cho kẻ mạnh dùng những phương tiện tàn ác để hà hiếp kẻ yếu trong tương lai.

Cái gì là nguyên nhân gây ra tình trạng bi thảm này của thế giới ngày nay? Xin thưa: đó là chủ nghĩa vật chất (materialism), kẻ hiện đang thay thế Ông Trời ngự trị thế gian này: Đồng tiền là Tiên, là Phật…

Chủ nghĩa vật chất đã có từ lâu chứ chẳng mới lạ gì, được nhìn thấy rõ nét qua cuộc cách mạng khoa học và kỹ nghệ cùng công cuộc phát triển thương mại quốc tế từ hồi thế kỷ 18 tại các nước Tây phương.

Điều này dẫn đến chủ nghĩa thực dân và chế độ thuộc địa tại Phi Châu, Nam Mỹ, và Á Châu, tạo cơ hội cho liệt cường Âu Mỹ xúm lại xâu xé nước Trung Hoa cổ hủ hồi thế kỷ 19, giúp quân đội Thiên Hoàng của Đế Quốc Nhật tấn công và chiếm đóng các quốc gia vùng Đông Bắc và Đông Nam Á và quân đội Đức Quốc Xã tiến hành cuộc xâm lược các quốc gia Âu Châu và Bắc Phi, châm ngòi cho Thế Chiến Thứ Hai (1939-1945).

Và chủ nghĩa vật chất ngày càng phát triển không có gì cưỡng nổi nhờ sự lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa Cộng Sản, để rồi trở thành cùng đích của hai chủ nghĩa đối nghịch nhau đó.

Các biến cố như sự ra đời của “ý thức hệ thập niên 1960” cổ võ cho nếp sống tự do buông thả và hưởng thụ của giới trẻ thế giới, tâm trạng sống cuồng, sống vội của con người trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam, chiến lược đầu tư tiền bạc vào các quốc gia Cộng Sản như Trung Quốc và Việt Nam té ra chỉ tạo thêm nanh vuốt cho các chế độ độc tài, phi nhân đó thay vì thúc đẩy họ tiến lên con đường dân chủ hóa. Và đặc biệt là sự trỗi dậy đáng sợ về mặt kinh tế, khoa học-kỹ thuật và quân sự của Trung Quốc, tất cả chỉ là hậu quả của một thế giới say mê chủ nghĩa vật chất.

Khi nước Mỹ dưới thời các Tổng Thống Bill Clinton, George W. Bush và Barack Obama ngoảnh mặt làm ngơ hoặc âm thầm khuyến khích để cho các công ty thương mại Mỹ bán đứt những kỹ thuật tân tiến và vô giá của họ cho Trung Cộng nhằm đổi lấy mối lợi được xâm nhập vào thị trường khổng lồ hàng tỷ người tại Hoa Lục thì chuyện này là do chủ nghịa vật chất xúi giục.

Khi các quốc gia như Tích Lan (Sri Lanka), Djibouti, Thổ Nhĩ Kỳ hay Ý tham gia vào sáng kiến Vành Đai và Con Đường của Trung Cộng thì cũng là do chủ nghĩa vật chất thôi thúc, và khi một số nước, kể cả các đồng minh của Mỹ, sẵn sàng đánh đổi an ninh quốc gia để có được kỹ thuật viễn thông 5G do tập đoàn Hoa Vi cung cấp thì đó cũng chính là vì họ bị chủ nghĩa vật chất sai khiến.

Trông người lại ngẫm đến ta. Bốn mươi bốn năm sau ngày Việt Nam Cộng Hòa bị thôn tính, chính quyền Cộng Sản Việt Nam ngày càng tham nhũng, bóc lột dân chúng nhiều hơn, và còn tùy thuộc kinh tế nặng nề hơn vào các đồng chí của họ tại Bắc Kinh, thậm chí đang mang thân phận của một con cá bé bỏng, tội nghiệp, ra sức dẫy dụa một cách tuyệt vọng trên chiếc thớt thịt tanh hôi của Trung Cộng.

Bao giờ đến lượt Hoa Kỳ đây giữa bối cảnh chính siêu cường này đang bị phân hóa đến cùng cực trong khi giới tư bản đỏ cùng các gián điệp của Trung Cộng đang nỗ lực xâm nhập vào guồng máy kinh tế và quốc phòng đầy những kẽ hở của Mỹ? Tất cả cũng chỉ vì chủ nghĩa vật chất mà ra.

Vann Phan