VÀI NÉT VỀ NGUYỄN TRÃI VÀ ỨC TRAI THI TẬP (Tiếp Theo)
Thầy Dương Anh Sơn
Đồng thời, khi đọc ỨC- TRAI THI -TẬP, chúng ta thấy Nguyễn Trãi luôn đề cao việc lấy “văn trị” và “nhân nghĩa” để sửa sang việc “an dân trị nước”. Những tư tưởng Khổng Mạnh về việc trị nước, an dân đã được Nguyễn Trãi cô đúc trong cụm từ "Văn trị" và đề ra một con đường mới: đối phó với giặc xâm lược luôn nêu cao việc "Lấy chính nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân để thay cường bạo" (Dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn .Dĩ chí nhân nhi dị cường bạo 以大義而勝兇殘,以至仁而易彊暴 - Bình ngô Đại Cáo). Tư tưởng "Nhân nghĩa" ấy mang bản chất của dân tộc Việt trong việc đối phó với sự tham tàn ,cuồng bạo của phương Bắc trên ngàn năm trước và để xây dựng đất nước khi thái bình:
… “Thánh tâm lục dữ dân hưu tức,
Văn trị chung tư trí thái bình”
(Quan duyệt thủy trận)
Dịch thơ:
… “Lòng vua rất muốn dân an,
Thái bình rốt lại lấy văn sửa đời”
(Xem bày trận dưới nước).
“Văn trị” ngược lại với “Võ trị”, vì “Văn trị” là lấy đức độ, lòng tôn trọng muôn dân bá tánh và chính sách thuận lòng người để cai trị. Nói khác hơn đó là con đường “lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo” không những để đối phó giặc xâm lược mà cả việc an dân ,giáo huấn những sĩ phu ra giúp nước nữa! Và “Văn trị” là làm cho dân được nghỉ ngơi, sống an lạc yên vui trong thời bình bằng những chính sách hợp lòng dân, vì “ý dân là ý trời” theo cách nói từ ngàn xưa. Do đó, Ức Trai tiên sinh rất coi trọng sức dân như là động lực để giữ gìn non sông:
… “Phúc chu thủy tín dân do thủy,
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên”
(Quan hải)
Dịch thơ:
… “Lật thuyền biết nước là dân,
Mệnh trời, cậy hiểm khó bằng được thay!”
(Cửa ải ở biển)
Dân như nước có thể chở thuyền và cũng có thể làm lật thuyền ("Dân do thủy dã, thủy năng, tải chu, nhi năng phúc chu"- Tuân Tử, triết gia T.H. thế kỷ 3, 4 TCN). Với tinh thần ấy, Nguyễn Trãi khi bàn bạc với vua trên và các quan trong triều để xây dựng chính sách đều đề cao việc trọng dân, trọng nhân nghĩa của đường lối “Văn trị”.
* * * * *
Đọc ỨC- TRAI THI- TẬP của Nguyễn Trãi, chúng ta cũng thấy được thơ của ông đậm đà phong cách của một nhà nho với hai lối xuất và xử. Khi làm quan, ông tận tụy với việc vua, việc nước. Ông lo nghĩ việc triều chính, gìn giữ bờ cõi và vui mừng trước các thắng lợi của quân ta (đánh bại giặc Minh, bình định giặc loạn vùng biên: Hạ Tiệp, Hạ quy Lam Sơn, Thượng nguyên hỗ giá chu trung tác, Quan duyệt thủy trận… v.v – khoảng 10 bài). Phần lớn những bài khác của thi tập này chất chứa tâm tư của một con người sau khi xong nhiệm vụ kẻ sĩ thời đất nước loạn ly muốn quay về để sống cuộc sống an nhàn, giản dị nơi chốn có ngàn thông, nhiều trúc, có suối chảy, đá khe, sông núi hữu tình. Ông đã viết trong Côn Sơn Ca: “Vấn quân hồ bất qui khứ lai, bán sinh trần thổ trường giao cốc, Vạn chung cửu đỉnh hà tất nhiên, ẩm thủy phạn sơ tùy phận túc”.
Dịch thơ:
“Hỏi anh sao chẳng về thôi?
Bám đeo đất bụi nửa đời buộc giăng?
Muôn chung, chín đỉnh nào cần!
Phận tùy nước uống, rau ăn đủ liều…”
Và như một thiền sư đạt đạo, ông đã thấu rõ những hệ lụy nhân sinh trong cõi đời, cõi vô thường: “… Quân bất kiến Đổng Trác hoàng kim doanh nhất ổ, Nguyên Tải hồ tiêu bát bách hộc. Hựu bất kiến Bá Di dữ Thúc-tề, Thủ Dương ngạ tử bất thực túc. Hiền ngu lưỡng giả bất tương mâu, diệc các tự cầu kỳ sở dục. Nhân sinh bách tuế nội, tất cách đồng thảo mộc. Hoan bi ưu lạc điệt vãng lai, nhất vinh nhất tạ hoàn tương tục. Khâu sơn hoa ốc diệc ngẫu nhiên. Tử hậu thùy vinh cánh thùy nhục…”.
Dịch thơ:
“… Thấy chăng: Đổng Trác vàng nhiều
Tám trăm Nguyên tải hồ tiêu hộc tràn.
Bá Di, họ Thúc thấy chăng?
Thủ Dương chết đói chẳng ăn gạo rồi!
Hiền ,ngu : hai kẻ đôi nơi,
Đều tìm ham muốn riêng người mình thôi
Trong vòng trăm tuổi con người
Rốt cùng cũng giống như đời cỏ cây.
Vui, buồn, lo, sướng đổi thay?
Vẻ vang, tàn tạ quay về nối nhau.
Thế rồi gò núi, nhà cao,
Ai vinh, ai nhục mai sau qua đời?...”
(Côn Sơn Ca)
Giàu sang, danh vọng, hiền, ngu… đều còn lại nắm cỏ trên đồi. Thấy được điều đó, ít nhiều Nguyễn Trãi từng thấm đượm tư tưởng của đạo Phật và của Lão giáo. Hai tư tưởng ấy quyện lẫn vào thơ của ông để cho chúng ta thấy được nét thanh cao của những người chọn niềm vui trong cảnh sông núi, vui thú điền viên, xa lánh cái ồn ào của chốn lợi danh:
“Trường thiên mạc mạc thủy du du,
Hoàng lạc sơn hà thuộc mộ thu.
Tiễn sát hoa biên song bạch điểu,
Nhân gian lụy bất đáo thương châu”
(Vãn lập)
Dịch thơ :
“Bao la trời nước mênh mông,
Lá thu vàng rụng, núi sông cuối mùa.
Thèm đôi chim trắng bên hoa,
Cõi người phiền lụy chẳng qua bãi này”
(Đứng ngắm cảnh chiều)
Làm quan, con đường cũng lắm chông gai trắc trở và nhất là nó chẳng đem lại niềm vui đích thực, cho nên Nguyễn Trãi vẫn trông ngóng về một cố hương xa xôi:
“… Kính trung bạch phát giai nhân lão,
Thân ngoại phù danh mạn nhĩ lao.
Miến tưởng cố viên tam kính cúc,
Mộng hồn dạ dạ thượng quy đao”
(Thu nhật ngẫu thành)
Dịch thơ :
“… Soi gương tóc bạc già sao!
Ngoài thân danh hão biết bao mệt nhoài.
Vườn xưa luống cúc nhớ hoài,
Đêm đêm thuyền mộng miệt mài về quê”
(Ngày thu ngẫu hứng thành thơ)
Côn Sơn là chốn xưa cũ gắn bó với Ức Trai tiên sinh từ thuở ấu thời. Côn Sơn cũng là hình ảnh của núi xưa, quê cũ trong tâm khảm của những người luôn mơ ước được nhàn dật, tiêu sái. Ở đây có động Thanh Hư, một nơi có thể gạn lắng những phiền toái của cuộc đời, Nguyễn Trãi đã từng mơ mộng:
“Thanh Hư động lý trúc thiên can,
Phi bộc phi phi lạc kính hàn.
Tạc dạ nguyệt minh thiên tụ thủy,
Mộng kỵ hoàng hạc thượng tiên đàn”
(Mộng sơn trung)
Dịch thơ:
“Thanh Hư động trúc hàng ngàn,
Ào ào thác đổ lạnh màn gương soi.
Sáng trăng trời nước đêm rồi,
Hạc vàng mơ cưỡi lên nơi cõi Bồng”
(Giấc mộng trong núi)
Ức Trai tiên sinh luôn ý thức về những nỗi bất ổn, những trói buộc, hiểm họa từ chốn quan trường, ông biết rõ con đường về ở ẩn, tránh hệ lụy nhân sinh là con đường nên làm:
“… Tùng cúc do tồn quy vị vãn,
Lợi danh bất tiễn ẩn phương chân.
Ta dư cửu bị nho quan ngộ
Bổn thị canh nhàn điếu tịch nhân”
(Đề Từ Trọng Phủ canh ẩn đường)
Dịch thơ:
“… Khi về, tùng cúc còn nơi,
Chẳng ham danh lợi, lánh đời phải thôi.
Mũ nho lầm lụy lâu rồi,
Cày nhàn, câu cá vốn người chuộng yêu.”
(Đề nhà ở ẩn để cày cấy của Từ Trọng Phủ)
Càng đọc thơ của ông, chúng ta càng thấm thía và xót xa cho nỗi oan khuất của vụ án Lệ Chi Viên đưa đến thảm họa phải bị “tru di tam tộc”, giết hết ba đời dòng họ nhà ông. Hệ lụy đau thương ấy ông đã thấy từ trước, nó xảy ra cho nhiều kẻ sĩ như ông không thích ra luồn vào cuối, xu nịnh, a dua với những kẻ cơ hội. Khi cuộc đời còn danh lợi, còn tranh giành, còn đố kỵ là còn những nỗi nhọc nhằn, những tai họa rình rập cho những người có liêm sĩ. Và ông luôn muốn xa rời khỏi chốn lợi danh vẩn đục ấy:
“Lãm huy nghĩ học minh dương thượng.
Viễn hại chung vi tỵ dặc hồng.”
(Hòa Hương tiên sinh vận giản chư đồng chí)
Dịch thơ:
“Hót theo phượng dõi ánh trời,
Làm chim hồng vút xa nơi hại người…”
(Hòa cùng Hương tiên sinh chọn vần với các người cùng chí hướng)
* * * * *
Ngoài ra một vài bài thơ mang đậm dấu ấn đạo Phật như “Du Nam Hoa tự”, “Đề Nam Hoa thiền phòng”, cùng với các bài như “Tầm Châu”, “Thiều Châu”, “Ngô Châu”, “Quá lãnh”, “Giang Tây”, “Bình nam dạ bạc”, v.v. đề cập đến các thắng tích bên Trung Hoa mà chưa có sử liệu nào xác định việc Nguyễn Trãi từng qua bên ấy.
Hình ảnh của Nguyễn Trãi trong Ức Trai Di Tập nói chung và Ức Trai Thi Tập nói riêng đã cho thấy tâm tư và tình cảm của một nhà nho trải qua một giai đoạn lịch sử nhiều rối ren, nhiều đau thương do tranh giành quyền lợi và giặc giã xâm lấn đã làm tròn chức trách của mình cho đến khi đất nước được hòa bình, độc lập. Và rồi những kẻ sĩ ấy lại đơn độc giữa những thế lực, bả vinh hoa sẵn sàng chà đạp lên những người khác đã từng bỏ biết bao công sức xây dựng nên nó.
Đồng thời qua tập thơ chúng ta thấy được con người của Nguyễn Trãi, một người có công lớn đối với dân tộc và đất nước với tầm nhìn rộng lớn về chính trị, ngoại giao; tiên sinh còn là một nhà văn, nhà thơ có tâm hồn trong sáng, thanh cao. Tiếc thay cuộc đời tài hoa ấy lại gặp tai họa lớn lao như nhà văn Pháp Yveline Feray đã viết trong phần mở đầu cuốn Dix Mille Printemps (Vạn Xuân): “Tấn thảm kịch thực sự của Nguyễn Trãi là tấn thảm kịch của một vĩ nhân sống trong một xã hội quá ư bé nhỏ!”. [1]
Phải chăng bi kịch xảy ra cho gia tộc Nguyễn Trãi cũng sẽ xảy ra ở bất cứ thời đại lịch sử nào với những hình thức khác nhau khi tâm hồn của con người chưa được nâng lên cao? Và khi lòng người còn nhiều đố kỵ, chia rẽ , xã hội còn thiếu vắng những hiền tài, con người chưa biết sống hòa ái, đàng hoàng với nhau thì những bi kịch từng xảy ra cho Nguyễn Trãi sẽ còn tiếp diễn. Mong sao tinh thần “Lấy chí nhân để thay cường bạo” (Bình Ngô Đại Cáo), “Thương người như thể thương thân” (Gia Huấn Ca) và nhất là tinh thần “Dùng văn trị để sửa sang lúc thời thái bình” (văn trị chung tu trí thái bình – Quan Duyệt Thủy Trận trong Ư.T.T.T) sẽ là ngọn đuốc yêu thương, nhân bản để dẫn dắt và soi đường cho dân tộc cùng đất nước hôm nay cũng như mai sau.
Công việc sắp xếp các bài thơ trong Ư.T.T.T căn cứ vào nội dung có thể tạm chia làm bốn thời kỳ:
1. Thời kỳ lưu lạc khi giặc Minh xâm lược (khoảng 1407 – 1417) gồm 14 bài.
2. Thời kỳ ra giúp Lê Lợi bình định xong giặc Minh xâm lược và làm quan nhà hậu Lê (khoảng 1418 – 1429) gồm 35 bài.
3.Thời kỳ sau khi bị tù oan, muốn lui về sống ẩn dật (khoảng 1429 – 1437) gồm 28 bài.
4. Thời kỳ vui thú ẩn dật ở Côn Sơn cho đến khi mất (khoảng 1438-1442) gồm 13 bài.
Ngoài ra có khoảng 15 bài thơ được cho là của Nguyễn Trãi làm ra khi đi sứ sang Trung Hoa. Chưa có nguồn sử liệu nào đề cập rõ về việc Nguyễn Trãi đi sứ T.H. Tuy nhiên, đọc kỹ những bài thơ này thì ý tứ cũng tương tự những bài thơ làm trong các thời kỳ vừa nêu. Vụ án Lệ Chi Viên và cái chết thảm khốc của dòng họ Ức Trai tiên sinh đã làm thất thoát nhiều thơ văn và để lại nhiều nghi vấn trong việc tìm hiểu xuất xứ các bài thơ cùng hoàn cảnh sáng tác.
Việc phân chia các thời kỳ như trên chỉ có tính cách tương đối và chủ quan, những mong sẽ có tư liệu khác nữa làm rõ các thời kỳ này.
Sau hết, việc chuyển Ư.T.T.T của Nguyễn Trãi từ các thể thơ thất ngôn bát cú, ngũ ngôn hoặc tứ tuyệt sang thể lục bát của dân tộc chỉ nhằm mục đích là giúp các thế hệ trẻ gần gũi và dễ nhớ các tập thơ cổ của các danh nhân, đặc biệt là những người góp công lớn trong việc giành lại và bảo vệ nền tự chủ của đất nước như Ức Trai tiên sinh. Chắc chắn công trình này còn rất nhiều điểm thiếu sót. Rất mong các vị thức giả chỉ giáo và giúp đỡ.
Sài Gòn tháng 01 năm 2008
Dương Anh Sơn
[1] YVELINE FERAY, Dix Mille Printemps /Vạn Xuân, bản dịch của Nguyễn Khắc Dương và các cộng tác viên, N.X.B VĂN HỌC(V.N) và SUDESTASIE (Pháp) đồng X.B, 2002, tr.11.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét