THƠ CỦA LÝ BẠCH - BÀI 137 - 139
Thầy Dương Anh Sơn
THƠ CỦA LÝ BẠCH
Bài 137
BẠCH LỘ TƯ 白鷺鷥
Bạch lộ há thu thuỷ, 白鷺下秋水,
Cô phi như trụy sương. 孤飛如墜霜。
Tâm nhàn thả vị khứ, 心閑且未去,
Độc lập sa châu bàng. 獨立沙洲旁。
Dịch nghĩa:
Con cò trắng phau sà xuống làn nước mùa thu, - Một mình bay như sương giăng xuống. – Lòng thảnh thơi ung dung hãy còn chưa rờiđi, - Một mình đứng ở bãi cát rộng lớn.
Tạm chuyển lục bát:
CON CÒ TRẮNG PHAU
Nước thu cò hạ trắng tinh,
Như sương giăng xuống một mình lượn bay.
Lòng nhàn, chẳng chịu rời ngay,
Mênh mông bãi cát đứng đây riêng mình.
Chú thích:
- Câu 1: Bạch lộ há thu thủy 白鷺下秋水: Con cò lông trắng phau bay sà xuống làn nước long lanh trong vắt nổi bật giữa bầu không khí mùa thu.
- Câu 2: Cô phi như trụy sương 孤飛如墜霜: Khi đặt tên bài thơ là “Bạch lộ tư 白鷺鷥”, ta thấy ngay nhà thơ Lý Bạch muốn nhấn mạnh đến màu trắng tinh của con con cò: Nếu “lộ tư 鷺鷥” nghĩa là con cò trắng, chữ “bạch 白” phía trước nhấn mạnh thêm lần nữa dáng vẻ trắng phau của con cò. Từ đó, nhà thơ đã ví cánh cò bay xuống như làn sương trắng toát sa xuống bầu không gian của mùa thu tao nên hình ảnh vừa thực lại vừa huyền ảo!
- Câu 3: Tâm nhàn thả vị khứ 心閑且未去: Câu thơ thứ ba này vẫn tả nét ung dung nhàn nhã của con cò nhưng lại ngụ tình, chất chứa tấm lòng của nhà thơ rất thảnh thơi trước cảnh vât. Loài vât hay con cò ở đây lại được nhân cách hóa để có được “tâm nhàn 心閑”. Con cò trắng hay nhà thơ Lý Bạch vẫn tận hưởng trong tư thái nhàn nhã ấy chưa muốn rời đi!
- Câu 4: Độc lập sa châu bàng 獨立沙洲旁: Sau động tác “cô phi 孤飛” ở câu 2, con cò riêng đứng trên bãi cát hay nhà thơ ở đây lại nhấn mạnh thêm tính “độc lâp 獨立”: đứng một mình trên bãi cát giữa thiên nhiên rộng lớn để hưởng thú an nhàn đang có.
Nhìn chung, bài thơ mang phong cách thoát tục đậm màu sắc tiêu dao gần gũi với thiên nhiên theo tinh thần của Đạo gia mà Lý Bạch chịu ảnh hưởng....
- lộ tư 鷺鷥: con cò có bộ lông màu trắng. Như thế, “bạch lộ tư 白鷺鷥” là con cò đã trắng lại là trắng phau, trắng tinh hay trắng toát, rất là trắng...
- thu thủy 秋水: làn nước mùa thu long lanh và trong vắt...
- trụy 墜: rơi rụng, sà xuống, ngã xuống, chìm xuống...
- sương 霜: khí mù do hơi nước tỏa ra màu trắng, trong trắng, lạnh lùng, hằng năm ,thuốc nghiền nhỏ...
- thả 且: hãy, cứ, hãy như thế, cứ như vậy, mà lại, vả chăng, gần tới, hãy thử...
- vị 未: chưa, chẳng, không...
- độc lập 獨立: đứng một mình, tự mình, tự chủ, lẻ loi, đơn độc...
- bàng 旁: mênh mông, rộng khắp, bát ngát, bên cạnh, tà lệch, rẽ ngang....
Bài 138
BẠCH VÂN CA TỐNG LƯU THẬP LỤC QUY SƠN 白雲歌送劉十六歸山
Sở sơn Tần sơn giai bạch vân, 楚山秦山皆白雲,
Bạch vân xứ xứ trường tuỳ quân, 白雲處處長隨君。
Trường tuỳ quân. 長隨君,
Quân nhập Sở sơn lý, 君入楚山裏,
Vân diệc tuỳ quân độ Tương thuỷ. 雲亦隨君渡湘水。
Tương thuỷ thượng, 湘水上,
Nữ la y, 女蘿衣,
Bạch vân kham ngoạ quân tảo quy. 白雲堪臥君早歸。
Dịch nghĩa:
Núi đất Sở, non đất Tần đều giăng đầy mây trắng, - Mây trắng nơi nơi đều luôn theo bạn, - Bạn đi vào núi non đất Sở, - Mây cũng lại theo bạn vượt qua dòng sông Tương. – Trên dòng sông Tương, - Áo đan bằng dây nữ la, - Mây trắng có thể để nằm nghỉ, bạn hãy sớm trở về!
Tạm chuyển lục bát:
BÀI CA MÂY TRẮNG TIỄN ÔNG BẠN
HỌ LƯU THỨ MƯỜI SÁU VỀ NÚI
Giăng đều mây trắng Sở Tần!
Nơi nơi mây trắng theo cùng với ông!
Cùng ông cứ mãi theo luôn,
Ông vào đất Sở bên trong non ngàn.
Sông Tương mây lại theo sang,
Trên sông làn nước Tương Giang xuôi dòng.
Nữ-la áo dệt núi non,
Nằm cùng mây trắng, ông nên sớm về!
Chú thích:
** Ông bạn họ Lưu thứ mười sáu của Lý Bạch không rõ thân thế! Chỉ biết đây là một bài thơ làm theo làn điệu dân ca đầy cảm hứng của Lý Bạch khi sáng tác để tiễn người bạn khi rời đất Tần có kinh đôTrường An để về vùng núi non đất Sở (thuộc vùng Hồ Nam, Trung Hoa) bên dòng Tương Thủy làm nơi ẩn cư. Tác giả đã chọn biểu tượng chính của bài ca là hình ảnh “bạch vân” hay làn mây trắng để diễn đạt sự thanh thoát, nhẹ nhàng và cao khiết của người đi tìm chốn ẩn dật mang tinh thần thoát tục của Đạo gia. Đồng thời, biểu tượng “mây trắng” luôn đồng hành, mãi mãi đi theo con người về non ngàn ở ẩn như là tình tri kỷ gắn bó của Lý Bạch với ông bạn họ Lưu. Đồng thời, hình ảnh “mây trắng” cho thấy tinh thần của những thi nhân như Lý Bạch và ông bạn họ Lưu mang sự nhẹ nhàng, lòng yêu chuộng tự do và thiên nhiên để có thể có được lối sống thoát tục, xa lánh trần thế! Nói khác đi, biểu tượng “mây trắng” cùng mối tương giao giữa họ Lục và Lý Bạch là của những người cùng chung ý tưởng thoát tục. Cho nên, bài thơ mở đầu bằng hình ảnh “mây trắng” giăng nơi nơi dù là đất Tần hay đất Sở. Rồi “mây trắng” mãi luôn đi theo cùng người khi vượt sông vào núi. Và sau cùng, Lý Bạch nhắn nhủ ông bạn họ Lục nên nằm nghỉ ngơi nơi làn “mây trắng” thanh thoát, an vui với thiên nhiên. Toàn bài thơ các hình ảnh được sử dụng mang đậm màu sắc của Đạo gia....
- Câu 1: Sở sơn Tần sơn giai bạch vân 楚山秦山皆白雲: Núi non đất Sở hay đất Tần đều có mây trắng và mở rộng ra nơi nào có núi non đều có mây trắng. Núi non và mây trắng thường luôn nối kết với nhau trong thơ ca như là một hình ảnh của tinh thần khoáng đạt,cao vời của thiên nhiên rất gần gũi với những bậc ẩn dật, chọn núi non làm nơi dung thân và mây trắng làm bạn bầu đồng hành.
- Câu 2: Bạch vân xứ xứ trường tuỳ quân 白雲處處長隨君: Mây trắng nơi nơi luôn mãi theo cùng với ông bạn. Mây trắng luôn đồng hành theo bạn khắp mọi nơi vì mây trắng tượng trưng cho cốt cách thanh cao, tinh thần trong sáng của những người thoát tục. Ít nhiều hình ảnh ấy cũng là tâm sự của Lý Bạch gửi gắm theo người bạn đang tìm về non cao ẩn thân lánh đời!
- Câu 3: Trường tuỳ quân 長隨君: Bài thơ hay “bài ca mây trắng” với câu này giống như một điệp khúc nhấn mạnh sự đồng hành thân thiết của Lý Bạch luôn luôn theo ông bạn đang chọn con đường ở ẩn!
- Câu 4: Quân nhập Sở sơn lý 君入楚山裏: Bạn đi vào bên trong núi non đất Sở nghĩa là bạn đã chọn bên trong chốn núi non có rừng sâu làm chỗ ẩn cư.
- Câu 5: Vân diệc tuỳ quân độ Tương Thuỷ 雲亦隨君渡湘水: Mây lại theo anh bạn đi qua dòng sông Tương. Tương Thủy hay còn gọi Tương Giang là một dòng sông nhỏ nổi tiếng ở vùng Hồ Nam, Trung Hoa. Người đi qua sông tìm về chốn núi non. Mây trắng cũng theo người bạn vượt qua con sông Tương. Đó là một hình ảnh mở rộng với sông, với nước và với núi non là những hình ảnh đặc trưng của thiên nhiên. Chọn về với thiên nhiên là chọn con đường của lẽ đạo thường được các nhà thơ Trung Hoa đề cập khi nói về Đạo gia của Lão Trang.
- Câu 6: Tương Thuỷ thượng 湘水上: Cũng như câu 3, câu này giống như một điệp khúc của bài ca nhấn mạnh nét đẹp của dòng sông Tương và cùng với hình ảnh “mây trắng” ở trên làm cho bài thơ hay bài ca mang âm điệu dân gian thêm thi vị.
- Câu 7: Nữ la y 女蘿衣:Chiếc áo”nữ la” là chiếc áo đan bằng loại dây leo nữ- la thường buông rủ nhẹ nhàng mềm mại như dáng tóc của thiếu nữ! Dây nữ-la cũng phải nương dựa vào những cội tùng to lớn chốn rừng sâu để sinh sống.Trong truyền thống thi ca Trung Hoa từ thời của Khuất Nguyên nước Sở với Sở Từ và rất nhiều trong thơ của Lý Bạch sau này, “nữ-la y” mang nghĩa đen là các người ẩn dật thường lấy dây nữ-la nơi các cội tùng để đan áo. Nhưng nữ-la cũng là hình ảnh của chốn núi non thiên nhiên đẹp đẽ mà con người đi tìm chốn ở ẩn, tựa như dây leo nữ-la, luôn phải biết nương dựa vào.” Nữ la y” trở thành một biểu tượng triết lý của cuộc đời thoát tục.
- Câu 8: Bạch vân kham ngoạ quân tảo quy 白雲堪臥君早歸: Mây trắng có thể để nằm nghỉ, ông bạn nên sớm về thôi! (Chữ kham 堪 có nghĩa là chịu đựng nhưng cũng có nghĩa là “có thể” như chữ khả 可). Đó là lời nhắn nhủ và gửi gắm của Lý Bạch với ông bạn họ Lưu và cho chính bản thân mình: hãy sớm trở về với bản tính tự nhiên, xa rời danh lợi phù phiếm mang tư tưởng Lão Trang. Và chỗ có mây trắng thanh thoát cùng thiên nhiên với núi non là nơi các bậc ẩn dật “thuộc về”!. “Quy 歸” không chỉ sự trở về cố hương hay trở về nhà mà còn mang ý nghĩa triết lý: trở về với căn cội, với thiên nhiên và lẽ đạo. Và biết rằng “Đạo khả đạo phi thường đạo 道可道非常道”(Lão Tử- Đạo Đức Kinh 老子-道德經 – Đạo có thể là đạo không phải là đạo thường) Ẩn ý của Lão Tử trong Đạo Đức Kinh ngàn xưa và được những người hâm mộ như Lý Bạch thời này luôn là một câu hỏi lớn: Lẽ đạo là gì? Tại sao phải tìm đến lẽ đạo ?... v.v..........
Bài 139
BIỆT ĐÔNG LÂM TỰ TĂNG 別東林寺僧
Đông Lâm tống khách xứ, 東林送客處,
Nguyệt xuất bạch viên đề. 月出白猿啼。
Tiếu biệt Lư sơn viễn, 笑別盧山遠,
Hà phiền quá Hổ Khê. 何煩過虎溪。
Dịch nghĩa:
Đông Lâm là nơi tiễn khách, - Vầng trăng vừa nhô ra, vượn trắng cất
tiếng hú. – Cười vui giã biệt núi Lư xa xôi, - Vì sao phải nhọc sức đưa qua khe Hổ !
Tạm chuyển lục bát:
TỪ BIỆT NHÀ SƯ CHÙA ĐÔNG LÂM.
Chốn đây tiễn khách Đông Lâm,
Hú vang vượn trắng, trăng dần hé ra.
Cười vui, biệt núi Lư xa,
Bận lòng khe Hổ đưa qua há nào!
Chú thích:
** Đây là một trong những bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt được xem như tuyệt tác của Lý Bạch chứa đựng bầu khí an lạc và tinh thần giải thoát của đạo Phật. Buổi chia tay giữa Lý Bạch và nhà sư chùa Đông Lâm diễn ra rất thân tình và tràn đầy niềm an lạc với tiếng cười vui . Đồng thời, việc từ giã giữa nhà thơ và nhà sư lại xảy ra vào buổi chiều tối lúc vầng trăng đêm mới nhú ra với tiếng vượn hú giữa vùng núi Lư Sơn (hay còn gọi là Lô Sơn) vẫn thường được xem là biểu tượng của
Thiền tông của đạo Phật ở Trung Hoa. Đó là một cảnh tượng rất thơ mộng và hùng vĩ với người khách Lý Bạch có tinh thần “vô ngại” sẵn sàng xuống núi ban đêm thay vì ban sáng ở một vùng có tiếng là nhiều hổ nên mới có con suối tên là Hổ Khê. Toàn bộ bài thơ tiễn biệt tràn đầy tiếng cười trong lúc chuyện trò giữa Lý Bạch và nhà sư chùa Đông Lâm khi đi xuống khe Hổ.....
- Câu 1: Đông Lâm tống khách xứ 東林送客處: Tiễn đưa khách nơi Đông Lâm. Chùa Đông Lâm với người khách đặc biệt là nhà thơ Lý Bạch rất nổi tiếng đương thời về tài làm thơ, về tinh thần xa lánh danh lợi phù phiếm và chọn con đường du lãm để thỏa chí giang hồ,kết giao bè bạn và thưởng thức nhiều cảnh đẹp của đất nước. Chùa Đông Lâm nằm gần núi Lư xa xa tạo nên một không gian nhiều thi vị cũng như là nơi các nhà sư có cơ duyên chọn để tu tập xa cách cõi đời ,đi tìm sự giác ngộ...
- Cầu 2: Nguyệt xuất bạch viên đề 月出白猿啼: Vầng trăng hiện ra với tiếng vượn hú giữa không gian tĩnh mịch về đêm trong lúc chủ và khách từ biệt nhau tao nên một quang cảnh có sức hấp dẫn của vùng núi non Lư Sơn cùng ngôi chùa Đông Lâm : núi cao, rừng núi hùng vĩ, trăng sáng và tiếng vượn hú trong thanh tĩnh nhưng lại sống động đan chen nhau...
- Câu 3: Tiếu biệt Lư Sơn viễn 笑別盧山遠: Cười vui, giã biệt núi Lư xa xa.
Chia tay với nhà sư chùa Đông Lâm giữa vùng núi Lư Sơn lúc ban đêm không có vẻ bi lụy hay bịn rịn mà lại bằng cái cười vui vẻ ( tiếu 笑 là cười với sự vui vẻ hoặc có chút bỡn cợt tự nhiên).Đó là phong thái thường tình của Lý Bạch. Chia tay với nỗi buồn rất nhẹ và thanh thoát chứ không buồn khổ bi lụy như phần lớn trong thơ ca Trung Hoa! Mặt khác,chữ “tiếu” (cười vui) Lý Bạch dùng trong câu này như nhắc đến câu chuyện nổi tiếng trong văn học Trung Hoa là “Hổ Khê tam tiếu 虎溪三笑”(Ba tiếng cười ở Hổ Khê). Ba người hòa vang trong ba tiếng cười trong điển tích này là sư Huệ Viễn của đạo Phật, Đào Uyên Minh (Đào Tiềm) của đạo Nho và Lục Tu Tĩnh của đạo Lão.
- Câu 4: Hà phiền quá Hổ Khê 何煩過虎溪: Sao lại bận lòng tiễn khi qua khe Hổ? Chữ “phiền” ở câu thơ cuối này cũng nhẹ nhàng trong việc tiễn người khách thân tình và đặc biệt như Lý Bạch xuống núi.(“Hà phiền” có nghĩa là: hà tất bận bịu, nhọc lòng ; sao lại bận tâm, nhọc sức; sao lại phiền muộn...). Hổ Khê hay khe Hổ là một nơi mang nhiều điển tích trong văn học Trung Hoa. Đó là một con suối dưới chân chùa Đông Lâm. Chuyện kể rằng khi chùa Đông Lâm mới thành lập giữa vùng núi Lư ,nhà sư Huệ Viễn có hai người khách là bạn thân đến viếng chùa. Khi chia tay, ba người gồm một tăng ,một nhà Nho và một ông Đạo (phái Lão gia) đi xuống núi râm rang chuyện trò vui vẻ và vô tình bước qua con suối Hổ!. Huệ Viễn khi chọn tu ở chùa Đông Lâm từng phát nguyện rằng sẽ không bao giờ bước qua khe Hổ.
Nhưng lần chia tay này, nhà sư đã phạm chính lời nguyện của mình chỉ vì cuộc trò chuyện vui vẻ! Truyền thuyết cũng nói rằng khi bước qua Hổ Khê sẽ có tiếng hổ gầm báo hiệu. Nhưng cả ba người lại cười vang khi đi qua khe nên câu chuyện này còn được gọi là “Hổ Khê tam tiếu 虎溪三笑”. Đó là sự gặp gỡ hài hòa vui vẻ giữa Phật,Nho và Lão đầy thi vị trong lịch sử văn học Trung Hoa. Ngày nay, chùa Đông Lâm và Hổ Khê vẫn còn đó. Khi viết “Hà phiền 何煩...”, Lý Bạch như muốn đùa vui cùng vị sư đưa tiễn: nhà sư đừng bận lòng việc đưa tiễn vì đã đi qua khe Hổ rồi. Lý Bạch nhắc đến Hổ Khê ,một điển tích nổi tiếng nhằm làm nổi bật thái độ lạc quan của mình trong hoàn cảnh đẹp đẽ của đêm trăng sáng chuyện trò vui thích với người bạn tăng nhân.
Dương Anh Sơn
(Lần đến: THƠ CỦA LÝ BẠCH – Bài 140, 141 và 142)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét