Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2026

Thơ Của Tô Đông Pha - Bài 57, 58 Và 59

 


THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA - BÀI 57, 58 VÀ 59
Thầy Dương Anh Sơn

THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA

Bài 57

HỮU MỸ ĐƯỜNG BẠO VŨ                                                   有美堂暴雨                                           

Du nhân cước để nhất thanh lôi,                                                遊人腳底㇐聲雷,
Mãn toạ ngoan vân bát bất khai.                                                滿座頑雲撥不開。
Thiên ngoại hắc phong xuy hải lập,                                           天外黑風吹海立,
Chiết đông phi vũ quá giang lai.                                                浙東飛雨過江來。
Thập phân liễm diễm kim tôn đột,                                             十分瀲灩金尊凸,
Thiên trượng xao khanh yết cổ thôi.                                          千杖敲鏗羯鼓催。
Hoán khởi Trích Tiên tuyền sái diện,                                         喚起謪仙泉灑面,
Đảo khuynh giao thất tả quỳnh côi.                                           倒傾鮫室瀉瓊瑰。

Dịch nghĩa:

Người khách đi chơi, một tiếng sấm (nổ vang) đến dưới chân!, - Ngồi lì lâu lắc vì mây đùa nghịch tốc lên, không chịu mở ra! – Ngoài trời xa, ngọn gió đen thổi như dựng đứng biển lên! – Phía đông vùng Chiết Giang,mưa bay vượt qua sông kéo đến. (c.1-4)
Nước mười phân long lanh,lấp lánh,chén vàng nhô lên! – Ngàn cây gậy đập vào những chiếc trống lớn thúc giục khua vang. – Gọi vị Trích tiên dậy vẫy nước suối lên mặt! – Nghiêng lật cung điện của người cá ở biển, dốc xuống loại ngọc hiếm và đẹp. (c.5-8)

Tạm chuyển lục bát:

CƠN MƯA LỚN TỪ GIAN NHÀ CHÍNH HỮU MỸ.

Khách chơi sấm động đến chân!
Ngồi lâu không mở,mây tràn đùa giăng!
Ngoài trời,biển dựng gió đen,
Mây bay đến Chiết, qua bên sông rồi.
Mười phần nhô chén vàng ngời!
Trống khua ngàn gậy tơi bời giục mau.
Trích tiên- vẫy mặt dậy nào!
Dốc ra nghiêng lật, cung giao ngọc trào.

Chú thích:

- Hữu Mỹ 有美 : một căn lầu ở Hàng Châu, nơi Tô Thức 蘇軾 tự là Tử Chiêm 子瞻 hay là Đông Pha cư sĩ 東坡居士 trên đường lưu đày ghé qua chơi và gặp cơn mưa rất lớn không thể dời chân đi được.Tên căn lầu Hữu Mỹ do Mai Chí 梅摯 thời Tống Nhân Tông đặt tên. Mai Chí được triều đình Bắc Tống bổ đi làm tri phủ Hàng Châu .Nhà vua đích thân có thơ đưa tiễn trong đó có câu: ”Địa hữu Ngô Sơ mỹ, Đông nam đệ nhất châu” 地有吳山美,東南第㇐州. Khi làm quan ở Hàng Châu, Mai Chí cho xây căn lầu với tên Hữu Mỹ để ghi nhớ ơn vua. Nhà thơ Âu Dương Tu cũng có bài thơ “Hữu Mỹ đường ký” khi ghé thăm Mai Chí.
Bài thơ này với bút pháp mạnh mẽ và giàu hình tượng, Tô Đông Pha 蘇東坡 đã vẽ ra một bức tranh vùng Chiết Giang trong cơn mưa lớn trên con sông Tiền Đường với ngọn gió đen, mây trời u ám bay qua sông,hạt mưa ào ạt lấp lánh bội phần trên sóng nước và tiếng mưa rơi ào ào như gõ trên mặt trống vang dội!.....
- cước để nhất thanh lôi 腳底㇐聲雷: một tiếng sấm vang động (nhất thanh động) đến chân. [để : đến ,ngăn lại hoặc dùng để hỏi. VD: để sự :việc gì đây?; để xứ: chốn nào đây ?..v..v...] Ở đây ,tiếng sấm động khởi đầu cho cơn gió đen tối đang cuồn cuộn kéo đến làm ngăn trở bước chân của khách ngoạn cảnh.
Những câu về sau sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn về sự giao thoa giữa con người với thiên nhiên sống động....
- mãn tọa: ngồi nhiều, ngồi rất lâu, ngồi mãi một chỗ...
- ngoan vân 頑雲: mây lì lợm và đùa nghịch (ngoan)...
- bát bất khai 撥不開: tốc lên (bát: tốc lên, xoay lại, phát ra, gảy đàn, trừ sạch), không chiu mở ra....
- xuy hải lập 吹海立: thổi dựng đứng, thổi sừng sửng ở biển...
- Chiết 浙: tức vùng Chiết Giang 浙江 nằm phía đông nam của Trung Hoa, giáp biển Hoa Đông nằm trong vùng Giang Nam rộng lớn...
- thập phân 十分: mười phần, trọn vẹn, toàn vẹn, hoàn hảo.......
- liễm diễm 瀲灩: nước tràn mênh mang, nước tuôn sóng vỗ, nước lấp lánh, nước sóng sánh...
- đột 凸: lồi lên, nhô lên, gồ lên... Trái với “ao 凹” là lõm xuống...
- xao khanh 敲鏗: tiếng gõ đập, khua, đánh gây âm thanh, tiếng va chạm...
- yết cổ 羯鼓: một loại trống lớn thường dùng trong nhạc lễ cung đình thời Đường, Tống bên Trung Hoa. Trong câu thứ 6 này, Tô Đông Pha dùng hình ảnh và âm thanh của tiếng khua đập nơi trống lớn như tiếng mưa rơi lộp độp mạnh mẽ và dồn dập...
- thôi 催: thôi thúc, thúc dục...
- hoán khởi 喚起: hô hoán (hoán) kêu gọi để người khác thức dậy (khởi)....
- trích tiên 謫仙: những vị tiên trên trời có lỗi lầm bị Ngọc Hoàng thượng đế đày xuống trần gian. Chữ “trích tiên” trong văn học Trung Hoa thường dùng để chỉ nhà thơ Lý Bạch như một con người tài hoa bị đầy đọa xuống trần gian vui chơi.Nhà thơ Hạ Tri Chương đã viết về Lý Bạch là “trích tiên nhân”.... Hình ảnh “trích tiên” ở đây đã cho thấy tinh thần khoáng đạt,thoải mái của Lý Bạch như lan tỏa cùng nhà thơ họ Tô khi đứng trước sự biến động của thiên nhiên và hài hòa cùng với cảnh vật...
- tuyền sái diện 泉灑面: lấy nước suối vẫy (sái: rảy nước, tung ném, rắc...) lên mặt cho tỉnh táo...
- giao thất 鮫室: nhà ở hay cung điện của con giao được người Trung Hoa tôn là “giao thần 鮫神” một loài thủy tộc to lớn, quyền uy ở biển cả... (giao: thuồng luồng, cá mập...)
- tả 瀉: dốc hết, dốc cho nước chảy xuống,dòng nước tuôn xuống...
- quỳnh côi 瓊瑰: loại ngọc đẹp và quý hiếm...

Bài 58

KHUẤT NGUYÊN THÁP                                                        屈原塔

Sở nhân bi Khuất Nguyên,                                                         楚人悲屈原,
Thiên tải ý vị hiết.                                                                      千載意未歇。
Tinh hồn phiêu hà xứ,                                                                精魂飄何處,
Phụ lão không ngạnh yết.                                                           父老空哽咽。
Chí kim thương giang thượng,                                                   至今滄江上,
Đầu phạn cứu cơ khát.                                                               投飯救飢渴。
Di phong thành cạnh độ,                                                            遺風成競渡,
Ai khiếu Sở sơn liệt.                                                                  哀叫楚山裂。
Khuất Nguyên cổ tráng sĩ,                                                         屈原古壯士,
Tựu tử ý thậm liệt.                                                                      就死意甚烈。
Thế tục an đắc tri,                                                                       世俗安得知,
Quyến quyến bất nhẫn quyết.                                                     眷眷不忍決。
Nam Tân cựu thuộc Sở,                                                             南賓舊屬楚,
Sơn thượng hữu di tháp.                                                             山上有遺塔。
Ưng thị phụng Phật nhân,                                                          應是奉佛人,
Khủng tử tựu luân diệt.                                                              恐子就淪滅。
Thử sự tuy vô bằng,                                                                   此事雖無憑,
Thử ý cố dĩ thiết.                                                                        此意固已切。
Cổ nhân thuỳ bất tử,                                                                   古人誰不死,
Hà tất giảo khảo chiết.                                                               何必較考折。
Danh thanh thực vô cùng,                                                          名聲實無窮,
Phú quý diệc tạm nhiệt.                                                              富貴亦暫熱。
Đại phu tri thử lý,                                                                       大夫知此理,
Sở dĩ trì tử tiết.                                                                           所以持死節。

Dịch nghĩa:

Người nước Sở thương Khuất Nguyên, - Ngàn năm lòng dạ vẫn chưa nguôi! – Linh hồn trong sạch (của ông) không biết bay phất phơ chốn nào? – Người già trống vắng nghẹn ngào. (c.1-4)
Cho đến nay lạnh rét vẫn trên con sông, - (họ vẫn) ném cơm cứu giúp (cho Khuất Nguyên) khỏi phải đói khát (trong cái lạnhđó)! – Vẫn còn lại tục đua thuyền ở các bến sông, - Tưởng nhớ (Khuất Nguyên) hò hét khiến núi Sở bị xé toạt! (c.5-8)
Khuất Nguyên, người tráng sĩ thời xưa, - Dù đã chết nhưng tấm lòng rất là sáng đẹp rực rỡ! – Người đời há sao biết được! – Vẫn quyến luyến chẳng đành dứt bỏ! (c.9-12)
Nam Tân xưa thuộc Sở, - Trên núi cao vẫn còn ngôi tháp. – Có lẽ đúng là nơi thờ phượng Phật, - Ngại rằng ông phải đắm chìm mất tăm. (c.13-16)
Dầu rằng chuyện này không có bằng chứng, - Tấm lòng này vốn đã thân thiết, gần gũi. - Người xưa ai là kẻ không chết đâu! – Cần chi phải so bày sống thọ hay chết yểu! (c.17-20)
Tiếng tăm thực sự không cùng! – Giàu sang cũng chỉ là cơn sốt tạm thời! – Quan đại phu đã biết được cái lý lẽ này, - Cho nên, giữ gìn cái chết (vẹn toàn) khí tiết. (c.21-24)

Tạm chuyển lục bát:

THÁP THỜ KHUẤT NGUYÊN

Khuất Nguyên dân Sở nhớ người,
Ngàn năm lòng dạ chưa nguôi được nào!
Phất phơ hồn sạch chốn nao?
Ngươi già trống vắng nghẹn ngào khóc thương.
Đến nay rét lạnh trên sông,
Ném cơm đói khát giúp ông no lòng.
Đua thuyền còn tục bến sông,
Xé toang núi Sở , kêu vang ồn gì!
Khuất Nguyên tráng sĩ xưa kia,
Tấm lòng sáng mãi mất đi vẫn còn!
Người đời có biết được không,
Luyến thương chẳng nỡ bỏ ông được nào!
Nam Tân thuộc Sở thuở nao!
Vẫn còn ngôi tháp trên cao non ngàn.
Đúng người thờ Phật đó chăng!
Ngại rằng chìm đắm mất tăm ông rồi!
Chuyện này bằng chứng đâu vời!
Với là thân thiết gần thôi tấm lòng .
Xưa kia ai chẳng chết chăng!
So đo sống thọ, chết non đâu cần!
Tiếng tăm quả thực không cùng,
Giàu sang cơn sốt oi nồng tạm thôi.
Lẽ kia quan lớn biết rồi!
Thế nên giữ tiết dẫu người mất đi!

Chú thích:

- Khuất Nguyên 屈原: tên thực là Khuất Bình 屈平 (340-278 TCN), hiệu là Linh Quân 霛均. Ông là một nhà thơ yêu nước, một người học rộng biết nhiều ,một nhà chính trị nổi tiếng của nước Sở thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Hoa. Khuất Nguyên là người trong hoàng tộc nước Sở, làm quan thời Sở Hoài vương với chức Tả Đồ. Đồng thời, ông cũng đảm nhiệm chức Tam Lư Đại phu trông coi ba dòng họ được xem là “Vương tộc Tam tính 王族三姓“ là họ Khuất (Khuất thi 屈氏), họ Chiêu (Chiêu thị 昭氏) và họ Cảnh (Cảnh thị 景氏) của nước Sở. Ông được vua yêu quý nên có nhiều người trong triều ganh ghét tìm cách dèm pha ,hãm hại như Thượng Quan Ngân Thượng, đại thần nước Sở, khiến Sở Hoài vương ruồng bỏ. Ông từng can ngăn Sở Hoài vương không nên qua Tần nhưng vua không nghe, bị giữ lại và hãm hại trong khi Dĩnh Đô nước Sở bị vây khốn. Đến cuối đời , ông bị Sở Tương vương đày ra Giang Nam nên thất chí, uất ức và buồn sầu nên gieo mình tự vẫn ôm cùng một phiến đá ở sông Mịch La (Tương Âm,Hồ Nam) vào ngày mồng 5 tháng 5 (278TCN). Cùng lúc, tướng Bạch Khởi nhà Tần tiến chiếm kinh đô nước Sở, chấm dứt một triều đại Chiến Quốc! Ông để lại nhiều bài thơ nổi tiếng trong thi ca xưa của văn học Trung Hoa như Ly Tao, Thiên Vấn... v...v.... hay tập thơ Sở Từ, trong đó có bài “Thiên vấn 天問” thể hiện tâm trạng và cuộc đời của ông khá rõ nét. Tương truyền khi nghe tin Khuất Nguyên tự trầm nơi dòng Mịch La, dân làng tìm cách cứu vớt thi thể của ông nhưng không thành nên cưỡi thuyền đánh trống,khua chèo cốt cho cá nước không xâm phạm hình hài của ông. Về sau theo tục đó, nhiều nơi ở Trung Hoa ,nhất là ở các bến sông thường bày chuyện đua thuyền, gõ trống ,la hét ồn ào và vui chơi không còn vẻ trang nghiêm để tưởng nhớ người tôi hiền lương xưa kia nữa. Nguyễn Du trong bài thơ “Phản Chiêu Hồn” (Bắc Hành Tạp Lục) làm khi đi sứ bên Trung Hoa có câu: “... Tảo liễm tinh thần phân thái cực! Thận vật tái phản linh nhân xỉ. Hậu thế nhân nhân giai Thượng Quan, Đại địa xứ xứ giai Mịch La. Ngư long bất thực sài hổ thực.
Hồn hề ! Hồn hề! Nại hồn hề! 早斂精神返太極, 慎勿再返令人嗤. 後世人人皆上官, 大地處處皆汨羅.魚龍不食豺虎食,魂兮! 魂兮! 奈魂何! (....Hãy sớm thu tinh thần lại, về với cõi thái cực nguyên sơ. Chớ quay lại làm gì để người ta cười cợt. Đời sau ai cũng đều như Thượng Quan; Và trên mặt đất rộng lớn, nơi đâu cũng đều là dòng sông Mịch La! Xương cốt của ông nếu không bị cá rồng nuốt thì cũng bị hùm sói ăn thôi! Hồn Ơi! Hồn hỡi! Biết làm sao hỡi hồn!). Tố Như tiên sinh đã cho thấy thói nham hiểm, xấu xa trong hàng ngũ quan lại xưa nay và rộng hơn trong cuôc đời... Mặt khác, xét về mặt văn hóa, việc người Trung Hoa lấy ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch mỗi năm bày ra cúng giỗ ,đua thuyền, ăn uống hay vui chơi là phong tục trước sau của nước họ! Nhưng ở nhiều nơi của nước ta, do ảnh hưởng trên ngàn năm Bắc thuộc, lấy phong tục của người Hoa làm phong tục của mình là một điều rất sai trái, không phù hợp với những truyền thống lịch sử và văn hóa người Việt. Vì thế,những nơi có phong tục cúng giỗ ,ăn uống,vui chơi vào ngày này ở Việt Nam chúng ta, nên xóa đi chớ ăn theo hay hòa nhập với văn hóa Trung Hoa. Thay vào đó, nên chọn ngày kỷ niệm những anh hùng, những danh nhân văn hóa có công lao to lớn đối với dân tộc Việt thì hay biết bao!
- ý 意: ý tưởng, những ý nghĩ bên trong, lòng dạ hay tấm lòng của con người, những suy nghĩ, ý chí, suy tư...
- hiết 歇: thôi, hết, nhả ra, tiết ra, tháo ra...
- tinh 精: trong sạch, tinh thần, giỏi rất tốt đẹp, toàn bộ. Tinh hồn 精魂: tinh thần, linh hồn và con người của Khuất Nguyên được người Trung Hoa kính trọng bởi sự trong sạch, thanh cao của ông...
- phiêu 飄: theo gió bay đi, nhẹ nhàng, phất phơ, bồng bềnh, thổi đi...
- không 空: trống vắng, trống rỗng, bầu trời cao trống không, hết sạch, sáo rỗng, phí công. Ở đây Tô Thức muốn nói sự thiếu vắng của một con người đức hạnh như Khuất Nguyên trong cuộc đời...
- ngạnh yết 哽咽: khóc không ra tiếng, nghẹn ngào, khóc nức nở.
- thương 滄: rét lạnh, lạnh lẽo, biển khơi, màu xanh. Một số bản dịch dùng nghĩa “màu xanh” của con sông Mịch La trong câu 5, nhưng đây là lòng thương cảm của người dân với cái chết của Khuất Nguyên nơi dòng sông lạnh lẽo đúng nghĩa hơn. Đồng thời, nghĩa “rét lạnh” hay “lạnh lẽo” liên ý với chữ “cơ khát 飢渴” (đói khát) bên câu dưới (câu 6)
- cạnhđộ 競渡: đua tranh, ganh đua ở bến sông. Đây chỉ việc đua thuyền...
- ai 哀: cảm thương, tưởng nhớ, buồn sầu...
- khiếu 叫: kêu gọi, rống lên, hò hét, gầm sủa...
- liệt 裂: xé ra, rách, phá tan, chia ra...
- tựu 就: nên, hay, đã, dù rằng, dù cho, dẫu...
- liệt 烈: rực rỡ, hiển hách, mạnh mẽ, gay gắt, nồng đậm, sáng láng, còn lại...
- an đắc 安得: sao được, làm sao có thể được, sao mà, sao lại ...
- quyến quyến 眷眷: quyến luyến, lưu luyến...
- quyết 決: bỏ đi, dứt bỏ, quyết tâm, bày ra, vỡ đê, ắt phải thế, xử chém, quyết định, khơi nguồn cho dòng chảy...
- Nam Tân 南賓: tức là vùng Trung Châu bên Trung Hoa.
- Câu 15 và 16: Ưng thị phụng Phật nhân, Khủng tử tựu luân diệt 應是奉佛人, 恐子就淪滅: hai câu thơ này liên ý với nhau. Tô Đông Pha xem ngôi tháp trên núi là “di tháp” là tháp từng là đền chùa của người tu hành và thờ Phật nay chỉ còn là di tích. Ông liên tưởng đến cái chết của Khuất Nguyên (trên dòng sông Mịch La, xem Mịch La cũng là một di tích để tưởng nhớ Khuất Nguyên...) chỉ ngại rằng cái chết của ông sẽ chìm mất không có gì lưu lại. Từ đó cho thấy cách dụng thơ của Tô Đông Pha rất tài hoa và sâu sắc...Nếu đầu đề chúng ta cứ ngỡ Tô Đông Pha sẽ nói về một ngôi tháp mang tên Khuất Nguyên trên núi cao! Nhưng rồi câu tiếp cho thấy ngôi tháp tưởng nhớ nhà thơ cốt cách trong sáng như Khuât Nguyên chính là tấm lòng của người dân Trung Hoa và dòng sông Mịch La ngàn đời vẫn còn đó!
- ưng thị 應是: có lẽ đúng như thế, nên thế ,đúng là thế...
- khủng 恐: có lẽ, e rằng, sợ hãi, dọa nạt, e ngại...
- tử 子: con, nhà thầy, ông ấy, gã, số lẽ...
- tựu 就: nên, hay là, tới, theo, hay, dù rằng, dù cho, đã là, mà lại, tức thì...
- luân 淪 : chìm đắm, vướng vít, lưu lạc, làn sóng nhỏ, mất
- diệt 滅 mất, tan rã, bỏ hết, tắt ...
cố 固: vốn có, vững chắc, bần vững, đương nhiên, cố nhiên...
- thiết 切: cần thiết, gần gũi, cần kíp, thiết thực....
- hà tất 何必: cần gì, sao lại phải thế, không hẳn, chưa chắc, vị tất...
- giảo 較: ganh đua, so đo, so sánh, so bì, qua loa, đại khái, rành rẽ...
- khảo 考: sống thọ, khảo sát, xem xét, già, tra hỏi, chọn lựa...
- chiết 折: chết non, chết yểu, bẻ gãy, gấp lại, uốn cong, phán đoán, nhún mình, hao tổn, đổi lấy, vấp ngã, bác bỏ...
- thực: đúng, thật, chân thực, hạt trái cây, thật là...
- diệc 亦: trợ ngữ: cũng là, lại, đã rồi, chỉ có, chẳng qua, rốt cuôc, dù cho...
- tạm 暫: tạm bợ, tạm thời, hãy, cứ hãy, vừa mới, chốc lát, không lâu, bỗng...
- nhiệt 熱: sức nóng, nồng ấm, cơn sốt, sốt sắng, được ưa chuộng, mạnh mẽ...
- đại phu 大夫: quan lớn, ông lớn. Người nắm giữ một bộ phận trong triều đình xưa. Khuất Nguyên từng giữ chức “Tam Lư đại phu” trông coi ba họ hoàng tộc nước Sở (xem thêm bên trên)
- lý 理: sửa sang, trau chuốt viên ngọc, lý lẽ...
- trì 持: cầm, nắm, giữ gìn, giúp đỡ, tì chống đỡ người...
- tiết 節: lễ tiết, tiết nghĩa, tiết tháo, tình tiết, sự việc, chí khí, một khoảng thời gian, đốt, đoạn (tre)....

Bài 59

KIỀN CHÂU BÁT CẢNH ĐỒ                                                  虔州八景圖

Khước tòng trần ngoại vọng trần trung,                                     卻從塵外望塵中,
Vô hạn lâu đài yên vũ mông.                                                     無限樓臺煙雨蒙。
Sơn thuỷ chiếu nhân mê hướng bối,                                          山水照人迷向背,
Chỉ bằng cô tháp nhận tây đông.                                                只憑孤塔認西東。

Dịch nghĩa:

Lại theo cõi trần bụi bặm bên ngoài,hướng về cõi trần bên trong, -Biết bao lầu đài khói mưa mờ mịt giăng khắp che lấp. – Cảnh núi sông phản chiếu,con người mê loạn hướng về phía sau (trước hay sau không phân biệt!),- Chỉ bằng vào ngôi tháp lẻ loi mới hiểu rõ (đâu là) đông, (đâu là) tây!

Tạm chuyển lục bát:

TÁM BỨC TRANH PHONG CẢNH KIỀN CHÂU

Cõi trần ngoài, bụi cõi trong!
Khói mờ che khuất , mưa giăng đài lầu.
Núi sông : mê loạn trước sau!
Tây đông biết rõ bằng vào tháp đơn!

Chú thích:

** Đây là một trong những bài thơ mang đậm tư tưởng Thiền của Đông Pha cư sĩ 東坡居士 (Cư sĩ là những người không xuất gia nhưng vẫn sống theo một số giới luật nhất định phù hợp với tính cách của mình. Đồng thời, họ là những người vẫn dành nhiều thời giờ nghiên cứu Phật học, ít nhiều hiểu được con đường tu tập để từng bước giác ngộ...). Nhà thơ khi đến chơi tòa thành bằng đá ở Kiền Châu do quan tri châu là Khổng Tôn Hàn trước đây dựng ra có tám bức vẽ phong cảnh. Bài thơ chỉ có bốn câu nhưng hàm chứa nhận thức hay cái nhìn của con người đối với thế giới. Nhà thơ giả định mình là người đứng ngoài cõi trần bụi bặm, thoát vòng danh lợi để quan sát cõi trần bụi bặm, cõi đời với lầu đài, danh lợi phù hoa kia đang bị khói mưa mờ ảo che lấp! Nhà thơ như thấy rõ cảnh lầu đài phù hoa ấy cũng chỉ là cảnh không thực, hư hư ảo ảo! Phong cảnh núi sông trong bức tranh kia lại phản chiếu lên con người (chiếu nhân), làm cho con người không phân biệt được đâu là sau, đâu là trước và rộng hơn đâu là cái đúng, cái sai, đâu là thật, đâu là giả?! Đó là tư tưởng gần gũi của Phật học: “Thế giới ta-bà này là ảnh chiếu của cái tâm và tâm mê loạn, đắm say thì cảnh cũng mê loạn! Và chỉ bằng một điểm tựa lẻ loi, đơn độc của chính bản thân mình – ví như “cô tháp”- mới là một chỗ dựa vững chải để có thể định được hướng đi trong cõi trần ai hỗn độn mờ mịt này! “Cô Tháp” là một biểu tượng mà Cư sĩ Tô Đông Pha, một người hiểu biết rõ về Phật học, thấm ý lời đức Phật từng dạy: ”Thắng ngàn quân không bằng tự thắng mình!”. Trong con đường tầm cầu chân lý, không ai ngoài chính bản thân của ta là “ngôi tháp lẻ loi” soi đường và là điểm tựa cho chính mình! Mặt khác, tinh thần của “Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh” với nhận thức “Sắc tức thị không 色即是空,”không tức thị sắc 空即是色” và “sắc bất dị không 色不異空, không bất dị sắc 空不異色” sẽ giúp cho những người “đứng ngoài cõi trần” hay đã vượt lên, đã siêu thoát để nhận ra đâu là tây đâu là đông, đâu là đúng đâu là sai, đâu thực đâu ảo?! Các bức tranh cảnh đời hư ảo ấy bị che lấp bủa vây bởi khói mưa mịt mờ của màng vô minh 無明 (cảnh giới vô minh- theo tinh thần Bát Nhã) che khuất trí tuệ phủ kín nhận thức, không thấy được chân tướng của phong cảnh đích thực! Bước đi tiếp sau khi đã vượt lên đến bến bờ giác ngộ dù là ở dạng “tục đế” (thấy được chân lý còn ở cấp thấp) là phải bước đi tiếp cho đến khi thực sự giải thoát, thực sự giác ngộ chân lý ở dạng “chân đế” (thấy chân lý ở cấp cao hơn như các bồ tát, chư Phật) thì chẳng cần “cô tháp “ để dựa vào nữa theo tinh thần phá chấp của nhà Phật! Nhìn chung, trong bài thơ này, Đông Pha cư sĩ với cái nhìn của một nhà thơ khi nhìn tám bức tranh vẽ đã thấy được cảnh đẹp huyền ảo của núi sông, của lầu đài thấp thoáng trong khói mưa chập chùng. Nhưng với cảm thức triết học và người hiểu biết nhiều về Phật học (cư sĩ) nhà thơ thấy đó là cảnh giới mê lầm(mông) của “yên vũ mông 煙雨蒙” như là biểu tượng vô minh của nhà Phật phản chiếu hình ảnh con người mê mờ, đắm đuối. v...v... không nhận ra được phương hướng: trước và sau, ảo và thưc, sai và đúng (mê hướng bối 迷向背). Chỗ dựa vững vàng hơn hết chính là “cô tháp” hay là chính bản thân đơn độc từng bước soi chiếu bức màn mê ảo để thấy rõ “như thật” (chân như) từ sự vật, phong cảnh và chính con người của mình khi đạt đến cái tâm giác ngộ... Quả thực, đây là một bài thơ tứ tuyệt nhưng hàm ý súc tích, sâu xa của nhà thơ Tô Đông Pha hay Đông Pha cư sĩ.
- câu 1: Khước tòng trần ngoại vọng trần trung 卻從塵外望塵中: Lại từ bên ngoài cõi đời bụi bặm để nhìn vào cõi trong hay cõi đời bụi bặm, đầy mê lầm. Nhà thơ đứng bên ngoài như một người đã ít nhiều giải thoát cuộc đời ô trọc để quan sát cuộc đời bụi bặm đang vần vũ khói mưa kia... [Khước 卻 hay 却: lại còn, lại từ, từ chối, thoái thác, lùi bước... Trần 塵: cõi trần ,cõi đời bụi bặm... Vọng 望: là cái nhìn từ một vị trí này để nhìn, hướng về, trông ngóng, nhìn xem... v.v... từ một vị trí ở hướng khác...]
- câu 2: Vô hạn lâu đài yên vũ mông 無限樓臺煙雨蒙: Hình ảnh muôn vàn lầu đài chìm trong khói mưa mờ ảo (yên vũ mông 煙雨蒙) là phong cảnh huyền ảo, đẹp đẽ nhưng cũng là cảnh phồn hoa phú quý mê muội hư ảo, giả tạm và rộng hơn là bức màng vô minh che khuất người đời [Mông: trùm lên, che kín, không rõ ràng, ngu dốt, tối tăm... v.v...]
- câu 3: Sơn thuỷ chiếu nhân mê hướng bối 山水照人迷向背: Núi sông soi bóng làm con người (chiếu nhân 照人) lầm lẫn trước và sau khi nhìn về cảnh vật (mê hướng bối 迷向背 – không phân biệt được phương hướng trước sau).Từ đó,cư sĩ Đông Pha đã gián tiếp cho thấy ông rất gần gũi với tư tưởng đạo Phật: “ Ảnh chiếu làm cho cái tâm mê lầm (vô minh)”
- câu 4: Chỉ bằng cô tháp nhận tây đông 只憑孤塔認西東: chỉ nhờ ngôi tháp đơn độc mới nhận ra được phía tây, phía đông. Nhà thơ nhìn phong cảnh lấy ngôi tháp cao làm điểm tựa để nhìn phương hướng, vị trí của cảnh vật. Hình ảnh “cô tháp 孤塔” không chỉ là điểm tựa (chỉ bằng 只憑) mà cao hơn, theo tinh thần đạo Phật mà cư sĩ Tô Đông Pha am hiểu, là ngọn đuốc chỉ hướng,soi đường cho chúng ta bằng vào trí tuệ và nỗ lực của chính mình để thấy rõ phương hướng chân thực của cuộc đời [nhận 認: nhận thức, nhận ra, thấy được, hiểu ra, hiểu rõ, thừa nhận...]

(Lần đến: THƠ CỦA TÔ ĐÔNG PHA- Bài 60, 61 và 62)

Dương Anh Sơn


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét